VietOrg Media
Dịch vụ    Việc làm    Tiệm ăn    Y tế & sức khỏe    Địa ốc    Cửa hàng    Xây dựng    Âm nhạc    Luật sư    Du lịch    Kỹ thuật    Bảo hiểm    Khách sạn    Lưu thông    Thẫm mỹ    Dịch vụ tổng quát    Tài chánh, ngân hàng    Truyên thông
      
AI ĐÃ TẠO RA BẢNG CHỮ CÁI ALPHABET ?

Các chữ cái đã trải qua hàng ngàn năm để phát triển thành những gì chúng ta biết và sử dụng hiện nay. (Nguồn: pixabay.com)

Jane Sancinito - Khi nhìn thấy các chữ cái A, B, C, D, E, F, G… nhiều người sẽ tự động muốn ngân nga bài hát bảng chữ cái. Nhưng không có lý do gì mà người ta phải học các chữ cái theo thứ tự nhất định. Có nhiều cách khác nhau để sắp xếp bảng chữ cái; và bàn phím máy tính là một thí dụ về một cách sắp xếp khác. Ngoài ra, còn có rất nhiều bảng chữ cái khác, cũng như các ngôn ngữ không sử dụng bảng chữ cái.

Vậy tại sao chúng ta lại có bảng chữ cái này, và ai là người tạo ra nó?

Các học giả lịch sử thường thích những câu hỏi “tại sao” hơn là “ai,” bởi vì thực tế là rất hiếm khi một cá nhân duy nhất có thể thay đổi thế giới. Thay vào đó, hầu hết những đổi mới quan trọng trong lịch sử đều đến từ sự hợp tác của nhiều người, sự đồng lòng của các cộng đồng để tìm ra cách làm cho cuộc sống tốt hơn, dễ dàng hơn và vui vẻ hơn.

Bảng chữ cái là một thí dụ hoàn hảo cho quá trình này. Các chữ cái A B C… của chúng ta, được gọi là bảng chữ cái Latin, là thành quả của hàng triệu người trong hàng ngàn năm làm việc cùng nhau và cùng đi đến thống nhất cuối cùng về việc sử dụng những chữ cái nào và trong những điều kiện nào.

Để hiểu tại sao lại có phiên bản mà chúng ta sử dụng ngày nay, trước tiên cần hiểu chữ cái (letter) là gì và bảng chữ cái (alphabet) là gì. Sau đó, ta có thể tìm lại những thí dụ đầu tiên của cả hai khái niệm này.

Chữ cái (letter) là những biểu tượng, giống như biểu tượng cảm xúc hoặc biển báo lối qua đường. Chữ cái là những hình dạng mà chúng ta – người sử dụng – liên kết với các âm thanh trong một ngôn ngữ cụ thể.

Nhưng nhiều chữ cái thay đổi âm thanh hoàn toàn khi chúng xuất hiện ở một ngôn ngữ khác. Thí dụ: “H” trong tiếng Anh phát ra âm “ha,” nhưng cũng là “H” trong tiếng Nga lại được phát âm là “en,” còn trong bảng chữ cái Cyrillic, “H” phát âm là “n.”

Ngay cả khi hình dạng và âm thanh của một chữ cái được giữ nguyên trong một ngôn ngữ, bản thân các chữ cái đó có thể có những cái tên khác nhau. Ở Hoa Kỳ, “Z” được gọi là “zee,” trong khi ở Canada, Anh và hầu hết các quốc gia nói tiếng Anh khác, nó được gọi là “zed.”

Sở dĩ các biến thể lại đa dạng như vậy là vì các chữ cái, giống như ngôn ngữ, phát triển và thay đổi theo thời gian dựa trên những gì mà người dân địa phương làm theo thói quen, khuynh hướng hoặc đơn giản chỉ là để vui đùa.

Bảng chữ cái là một tập hợp các ký hiệu chữ cái ít nhiều đã được tiêu chuẩn hóa và thường phản ánh tất cả các âm thanh được tạo ra trong một ngôn ngữ cụ thể, dù không phải lúc nào cũng vậy.

Một số ngôn ngữ, như tiếng Tàu, không có bảng chữ cái mà sử dụng các ký hiệu để thể hiện toàn bộ từ. Những ngôn ngữ khác, như tiếng Cherokee, sử dụng các ký hiệu đại diện cho từng âm tiết.