HỘI ĐOÀN NGƯỜI VIỆT TRONG VÙNG:
Ashburn, Virginia, United States
Hội Đòan Của TôiDanh SáchGhi Danh
   English
TIN TỨCSÁNG TÁCBLOGSPHIM ẢNHTHƯ VIỆNDIỄN ĐÀNLIÊN KẾTQUẢNG CÁO
 

THƯ VIỆN - DANH MỤC: LỊCH SỬ (16)CHÍNH PHỦÝ THỨC HỆ (5)LỊCH SỬ & CHIẾN TRANH (56)
SỨC KHỎE & Y TẾ (6)CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀIPHONG CẢNH, ĐỊA LÝ (8)TỦ SÁCH (1)KHOA HỌC & KỸ THUẬT (4)
TÔN GIÁO (5)THỂ THAOÂM NHẠC & GIẢI TRÍ (2)NGÔN NGỮ (3)KÝ ỨC & HỒI KÝ (16)
SẮC ĐẸPXÃ HỘI & ĐỜI SỐNG (1)KIẾN TRÚC (3)NGHỆ THUẬT & TRANG TRÍGIA ĐÌNH (1)
TÌNH YÊU & TÌNH BẠNNUÔI CONTHỰC PHẪMSƯU TẦM (2)CHUYỆN LẠ (1)
PHONG TỤC TẬP QUÁN (2)MẸO VẶT (1)MÔi TRƯỜNGVỆ SINH (1)
GIÁO DỤC, VĂN HÓA (13)
THƯ VIỆN: ->GIÁO DỤC, VĂN HÓA Đăng bài mới
  
GIÓI THIỆU SÁCH QUÍ VÊ NGƯỜI TỴ NẠN
BÀN VỀ LÀM GIÀU TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT

 

Tôi yêu tiếng nước tôi | Đàn Chim Việt Online - Thông tin - Chính trị -  Nghị luận


PHẦN 1.
Tếng Việt giàu đẹp

Từ ngữ tiếng Việt hiện tại ngày càng phong phú đáp ứng được nhu cầu diễn đạt mọi khía cạnh của đời sống văn minh hiện đại. Có những yếu tố quan trọng quyết định cho các thành tựu ấy.
Bài viết “Bàn về làm giàu từ ngữ tiếng Việt” gồm 2 phần:
1) Các đặc điểm của từ ngữ tiếng Việt.
2) Các phương thức làm giàu từ ngữ tiếng Việt.
____

I) CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT.

Trong mọi ngôn ngữ, mỗi ‘từ’ (chữ, tiếng, word) được hình thành từ các âm tiết.
Âm tiết (syllable) là đơn vị phát âm ngắn nhất, thể hiện bởi một nguyên âm và các phụ âm đi kèm. Vd: ‘ong’ và ‘trong’ ở tiếng Việt, ‘on’ (trên) và ‘strong’ (khỏe) tiếng Anh.
Để làm tăng thêm số lượng ‘từ’, sự sắp xếp các âm tiết với nhau là giải pháp.

Có 2 cách tập hợp âm tiết, đều dễ dàng và thuận lợi ngang nhau.

   1) Tập hợp các âm tiết đứng chung, sát nhau để tạo những từ đơn mang nhiều âm tiết. Vd: ‘teacher’ (thầy giáo), ‘education’ (giáo dục) ở tiếng Anh. Tiếng Anh được gọi là ‘đa âm tiết’.
   2) Tập hợp các âm tiết đứng riêng, cạnh nhau để tạo những từ ‘phức’ (đa số là từ đôi). Vd: ‘thầy giáo’, ‘giáo dục’ ở tiếng Việt. Thầy giáo’ là một từ ‘phức’ do 2 từ đơn âm tiết ‘thầy’ và ‘giáo’ ghép chung. Tiếng Việt do đó được gọi là ‘đơn âm tiết’.
Cũng có khi từ Việt ngắn gọn hơn từ Anh, vd. ‘education’ với 4 âm tiết, ‘giáo dục’ chỉ hai.

Nhận xét:
1) Ghép các từ đơn đứng cạnh nhau để tạo từ phức là đặc điểm của tiếng Việt đơn âm tiết.
 Một số các nhà học giả gợi ý viết các âm tiết trong từ phức tiếng Việt dính liền nhau, ví dụ: “thầygiáo” và “độclập”. Điều này khiến ‘từ’ Việt có dạng đa âm tiết tương tự chữ viết Pinyin của Trung Quốc Latin hóa để chú âm các chữ Hán. Thí dụ: 老师Lǎoshī = lão sư = thầy giáo. Nóngshì = nông sự = đồng áng. Chēliàng = xa lượng = xe cộ. Yuènán = Việt Nam.

2) Số lượng âm tiết của một ngôn ngữ là hữu hạn, song sự kết hợp giữa chúng để tạo ‘từ’ mới là bất tận. Thực tế, như ở Trung Quốc sở hữu số lượng 3.000 từ đơn cùng khoảng 15.000 từ phức liên quan đi kèm đã là tương đương trình độ một học sinh tốt nghiệp trung học bao gồm đủ các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà hàng ngày thường tiếp xúc.
Ở nước ta, sách Tam Thiên Tự dạy 3.000 chữ Hán do Ngô Thời Nhậm (1746-1803) soạn được xem là có rất nhiều chữ song đọc dễ nhớ vì soạn theo thể vè 4 chữ.
Theo từ điển mở Wikipedia thì có khoảng một nghìn từ tiếng Anh được gọi cơ bản để cho người ta có thể sử dụng trong các hoạt động thông thường.

 II) CÁC THUẬN LỢI LÀM GIÀU TIẾNG VIỆT.

Có hai thuận lợi: 1) Sự linh động của văn phạm Việt. 2) Yếu Tố ‘từ’ Hán Việt.

                 1) Sự Linh Động Của Văn Phạm Tiếng Việt.
Văn phạm tiếng Việt đơn giản, mềm dẻo, uyển chuyển dung nạp được những sai phạm theo tiêu chuẩn thông thường.

       1.1) Nhiều câu có thể đọc xuôi hoặc ngược. “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” có thể đọc ngược: “Hoa chen lá, đá chen cây cỏ”.
Nhiều bài thơ thuộc loại ”Thuận nghịch độc”, đọc xuôi ngược đều được.

       1.2) Từ đôi được tạo dễ dàng, là đặc điểm và là nền tảng làm giàu từ ngữ mới.
Có hai loại từ đôi: từ ghép và từ láy.

               1.2a) Từ ghép gồm: +) ghép ‘chính chính’ (đẳng lập) và +) ghép ‘chính phụ’.

+) Từ ghép ‘chính chính’ đồng loại, cùng là danh từ, tính từ hoặc động từ. Khá nhiều từ ghép ‘chính chính’ có thể đọc đảo ngược. Thí dụ: danh lợi (danh và lợi), thù hận, tranh đấu, núi rừng, củi lửa, chọn lựa, kết nối, vui buồn, kiêng cử…  Không đảo từ được, vd: đất nước, can đảm, thành bại, hiền từ, bạn hữu, sự việc...

Theo ngữ nghĩa có 3 trường hợp ghép chính chính:
--Ghép 2 từ đơn gần đồng nghĩa thì nhằm bổ sung nghĩa, vd: ngu ngốc, tập dượt, mồ mả.
--Ghép 2 từ đối nghĩa để tổng hợp mọi khả năng, tình huống, vd: ngày đêm, tốt xấu, ít nhiều.
--Chứa 2 từ có liên quan ngữ nghĩa là để khái quát hóa, vd: ăn ở, đồng ruộng, nhớ thương.
Loại từ này đa dạng, vd: đất nước, non sông, búa rìu, sấm sét, trâu ngựa, tâm phúc…

+) Từ ghép ‘chính phụ’, gồm một từ chính và một từ phụ, định tính. Thường không thể đọc đảo từ, vd: ăn mày, nhà chứa, máy bay, xe đò, cá lóc… lắm khi đảo từ làm khác nghĩa hẳn, vd: chịu khó/khó chịu, hạ thủ/thủ hạ, vi phạm/phạm vi....

Nhiệm Vụ Của Từ Ghép:
+) Từ ghép chính chính làm giàu tiếng Việt do cải tiến, là bước đi ngang mở rộng cách dùng, vd: đã có quy mô, quy tắc, quy củ, quy nạp v.v… nay thêm quy hoạch, quy kết, quy trình, quy chụp…
Tiếng Việt thêm chuẩn xác và hiệu quả trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống.

+) Từ ghép chính phụ nhằm sáng tạo, vd: xe ôm, phượt thủ, triều cường…, nhằm dịch thuật, vd: vệ tinh (satellite), xa lộ (highway), siêu âm (ultrasound), nhất là dịch thuật ngữ các ngành khoa học, kỹ thuật, hoặc nhằm giới thiệu các sản phẩm mới như tủ lạnh, iPhone, lò vi ba, thang cuốn…

Về mặt thực tiễn từ ghép chính phụ là bước đi tới, khai phá, tích cực và thiết yếu.
Từ láy tả tình, tả cảnh có tính biểu cảm cao, đáng tiếc số lượng hầu như không tăng thêm.                                                                                 

           1.2b) Từ láy.
Từ đôi láy (gọi tắt là từ láy) đáp ứng 2 điều kiện sau:
      + Chứa ít nhất một từ vô nghĩa, vd: khỏe khoắn, luộm thuộm, bẽn lẽn.
      + Có yếu tố láy âm (điệp âm). Một từ, thông thường là từ đứng sau, lặp lại:
a) hoặc phụ âm đầu của từ đứng trước, vd: phụ âm ‘b’ trong bạc bẽo, buồn bã, bẽ bàng.
b) hoặc lặp lại vần âm sau, vd: vần ‘àu’ trong làu bàu, càu nhàu, bàu nhàu.
c) hoặc cả 2 từ đều bắt đầu bằng nguyên âm, vd: ấp úng, èo uột… cũng gọi là láy với nhau.

Ngoài ra nếu từ láy có chứa các dấu ‘hỏi’ và ‘ngã’ thì có thể sử dụng luật “sắc không hỏi” - “huyền ngã nặng” giúp xác định dấu hỏi ngã của từ. Thí dụ: nghỉ ngơi và nghĩ ngợi.

Có 2 trường hợp số lượng ít nhưng gây nhiều tranh cãi:
1) yếu tố láy không hoàn chỉnh vd: eo sèo, âm thầm, êm đềm – là do hiện tương biến âm!
2) chỉ có từ vô nghĩa, vd: đồng áng, phân bua, góa bụa – từ chưa rõ gốc, là chính chính?

Chú ý: Các từ đôi ‘cuồn cuộn, thăm thẳm, đo đỏ, bươm bướm’… chỉ láy phụ âm đầu. Các từ đôi ‘rưng rưng, làu làu, kè kè’… là những điệp từ = láy từ (phân biệt với từ láy là điệp âm).         

Tổng số từ láy là trên 2.500, rất phong phú.
--Có loại láy cùng vần, bằng hoặc trắc, vd: gặp gỡ, lác đác, thỉnh thoảng, lầm bầm, lom khom, nhảy nhót, lải nhải, sơ sài, tỉ mỉ, lung lay... hầu như tất cả đều không thể đọc đảo từ. Đặc biệt các từ láy vần âm sau tất nhiên luôn cùng vần.
--Có loại láy khác vần, bằng trắc phân biệt, tất cả thuộc thể loại từ láy phụ âm đầu. Thể loại láy này chiếm đa số từ láy, song chỉ một số ít chục từ có thể đọc đảo ngược. Thí dụ: bề bộn, dở dang, đau
đớn, giữ gìn, hững hờ, lai láng, lửng lơ, mịt mờ, mù mịt, ngạt ngào, tả tơi, tha thiết, thẫn thờ, thơ thẩn, thướt tha, vấn vương, xác xơ, xạc xờ… Không thể đảo từ là phần lớn, vd: bền bĩ, chạy chọt, đen đủi, vui vẻ, lỡ làng, ngọt ngào, nở nang, thẹn thò, nhỏ nhoi, sẵn sàng, rầu rĩ, lá lay, tỉ tê… cũng như các từ láy phụ âm đầu cùng vần, vd: tí tẹo, đủng đỉnh, xì xồ...
Các từ Hán Việt cũng có khả năng tạo từ đôi láy: biền biệt, dư dả, đãi đằng, hãi hùng, hậu hĩnh/hĩ, hiểm hóc, khách khứa, kỳ quặc, lạc lõng, mê mẩn, mưu mô, mỹ miều, nghiệt ngã/ngõng, nhã nhặn, nhục nhã, quá quắt, tằn tiện, thực thà, tiện tặn, tục tằn/tĩu, não nề/nùng/nuột…

Sự đọc đảo ngược rất hữu ích trong thi văn, để gieo đúng vần.
Thí dụ: “Trăng ngập dòng sông chảy láng lai”- Hàn Mặc Tử.

       1.3) Sử dụng danh từ thành động từ hoặc tính từ.
Thí dụ: Cô rất thần tượng cha cô. Rất ấn tượng cô giáo.
Gia đình cô rất hoàn cảnh, nét mặt tâm trạng, hình sự, một biệt thự rất đẳng cấp…
Tương tự ‘danh giá’ là danh từ trong ‘danh giá gia đình’, tính từ trong ‘gia đình danh giá’.
Có khi như `yêu cầu`, ngược lại, động từ thành danh từ.

Văn phạm Việt thích hợp với ngữ pháp `lặp từ’, viết thêm từ đồng nghĩa cho có đôi, vd: chửi rủa, hủy bỏ, bạn hữu, đều đều, lâng lâng, xanh xanh. Hoặc giả ‘ngày sinh nhật’, ‘người công nhân’. Thông thường người ta nói: ‘vụ này’ hoặc ‘việc này’, bây giờ thì luôn nghe ‘vụ việc’ này.
Chữ Hán ’vụ’务 = việc, vd: công vụ. Chữ ‘sự việc’ cũng năng được dùng. ‘Sự’ 事 = việc.

Tuy vậy ngữ pháp điệp từ (điệp=trùng lặp) này tiếng Anh gọi là ‘redundancy’ hoặc ‘pleonasm’ rườm rà theo họ nên tránh vì thêm yểu tố thừa không cần thiết (needless repetition). Tiếng Anh nói: ‘return back, repeat again, new innovation…’ thì các chữ: ‘back=lui, again=lại, new=mới’ là thừa vì ‘return’ đã có nghĩa trả lui, ‘repeat’ đã có nghĩa nói lại, ‘innovation’ đã có nghĩa đổi mới.
Tiếng Việt có thể nói ’dư thừa’ dù dư=thừa và cũng có thể sử dụng từ láy: dư dả, thừa thãi.

       1.4) Văn phạm uyển chuyển lắm lúc gây tình trạng lẫn lộn.
Áo ấm = áo lạnh/rét (giữ ấm chống rét), đánh thắng = đánh bại (ta thắng địch bại), giảm bớt = giảm thêm (bớt lại, giảm thêm), thấp bớt = thấp thêm, gầy bớt = gầy thêm, mở điện = đóng điện, nên dùng mở và tắt, tiếng Việt bỏ dấu = thêm dấu, nín thinh = làm thinh (làm sự nín thinh). ‘Cặp đôi’ vợ chồng = cặp vợ chông (cặp=đôi là từ đồng nghĩa lặp lại). 

Hoặc nói tắt: “quyết” thay thế ‘quyết định’ , “quản” thay thế ‘quản lý’, “phí” là “lệ phí”, tiền “tuất” là tiền ‘tử tuất’, người “lịch” = ‘lịch lãm’, “căng” = căng thẳng, “tuyển” VN = đội tuyển VN, “trao đổi” = trao đổi ý kiến, bà “chăm” ông = chăm nuôi…

                2) Yếu Tố Từ Hán Việt Trong Tiếng Việt.
Chúng ta xét 1) các đặc điểm, 2) vai trò các từ Hán Việt.

      2.1) Các Đặc Điểm Của Từ Hán Việt.
             2.1a) Theo Hán ngữ đại tự điển thì số lượng chữ Hán đơn là trên 56.000.
Tiếng Việt cho nhập tịch khoảng 5.000 ‘từ’ Hán (gần 1/10 tổng số) và hoán cải theo âm Việt. Đó là những từ Hán Việt, trong số đó chỉ khoảng 1.000 từ là thực sự thông thường được dùng.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ vựng Hán Việt chiếm khoảng 70%, còn lại 30% là từ thuần Việt, tuy ít hơn nhưng luôn dùng.

Từ thuần Việt chiếm tỷ lệ trên 90% trong giao tiếp chuyện trò hàng ngày, kịch nói, trên 85% trong các tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, hồi ký… Từ đơn thường được dùng.
Trong bốn câu đầu của truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi…” chỉ có 2 từ Hán Việt (tài mệnh).
Bài thơ ‘Bánh Trôi Nước’ 28 chữ của Hồ Xuân Hương chỉ có một từ Hán Việt (Thân em).

Từ Hán Việt ngược lại chiếm khoảng trên dưới 70% ở các công trình biên khảo khoa học, kỹ thuật, kinh tế, nghệ thuật, triết, văn, tôn, chính trị, quân sự… cần sử dụng các danh từ trừu tượng thường thiếu sót trong tiếng Thuần Việt. Từ đôi là thông dụng.                   

             2.1b) Nhiều từ đơn Hán Việt trùng với từ Thuần Việt (từ Nôm) nên có thể đứng riêng lẻ, vd: thần, thánh, đông, tây, học, hoãn, ác, hung, tạo, tại… Song đa số đứng thành cặp, đôi ba (từ phức) vd: bảo đảm, can đảm, phong trần, kết liễu, câu lạc bộ… Chữ Hán ít âm tiết, đa nghĩa, đoán được nghĩa là khó. Nếu chúng đứng cụm đôi, ba với nhau thì dễ nhận diện.

             2.1c) Các bất đồng giữa từ ngữ Việt, Trung:
+Khác lời – Tiếng Việt nói: “ca sĩ, thi sĩ, họa sĩ, văn sĩ (nhà văn), phi công, tài xế…” thì tiếng Trung nói: ca thủ, thi nhân, họa gia, tác gia, phi hành viên, tư cơ (tư=điều khiển).

+Khác nghĩa -- Tiếng Trung “khôi ngô” là nở nang, to tát, thì tiếng Việt có nghĩa nam nhi mặt mày sáng suả đẹp đẽ. “Đinh ninh” là dặn dò thì tiếng Việt hiểu là tin chắc. “Bần tiện” là nghèo hèn thì tiếng Việt hiểu trệch ra là keo kiệt, thù vặt, kém nhân phẩm. “Tử tế” là tỉ mỉ, cẩn thận, tằn tiện thì tiếng Việt có nghĩa xử sự tốt. “Khốn nạn” là rắc rối, khó khăn thì tiếng Việt có nghĩa hèn mạt, đáng khinh. “Vấn nạn” là hỏi vặn thì tiếng Việt dùng với nghĩa vấn đề khó khăn, nan đề…
Các thí dụ rất nhiều nên chẳng để tâm làm gì, chữ nghĩa của ai nấy dùng.

      2.2) Vai Trò Các Từ Hán Việt.
Tiếng Việt hưởng lợi sở hữu 2 tài sản ngôn ngữ. Đó là tiếng Thuần Việt (Nôm) và tiếng Hán Việt khiến nhiều sự việc được diễn tả theo hai cách, bình thường mộc mạc hoặc văn vẻ kiểu cách. Có thể nói, viết: người đẹp hoặc ‘mỹ nhân’, giúp đỡ hoặc ‘hỗ trợ’, giàu sang hoặc ‘phú quý’, yêu nước hoặc ‘ái quốc’, chia buồn hoặc ‘phân ưu’, qua đời hoặc ‘tạ thế’, dùng hoặc ‘sử dụng’, có hoặc ‘sở hữu’,  phần lớn hoặc ‘đa số’, vùng biển hoặc ‘hải phận’.…

Tuy nhiên có trường hợp tiếng Nôm bất túc, để diễn tả phải dùng ‘từ’ Hán Việt, văn vẻ.
Thí dụ: anh hùng, bổn phận, danh dự, thông minh, công lao, khuyến khích…
Ngược lại có nhiều tiếng Trung bình dị trong sinh hoạt hàng ngày thì xa lạ với tiếng Việt.
Thí dụ: bồ đào=nho, bình quả=táo, thái=rau, nãi=sữa, bính=bánh, trác tử=cái bàn, ma tước=chim sẻ, mã nghị=con kiến, chiếu tướng=chụp ảnh, lý phát=hớt tóc…
Cũng như các từ ngữ chưa hề được nghe: khảo lự, phủ tuất, thủ giản, dao khống, để cảo…

Theo loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song trong thực tế cấu trúc từ phức lại là chủ đạo. Tiếng Việt đã thành hình hiếm khi bổ sung từ đơn mới song vẫn đều đặn tạo từ phức.

--Từ phức, có thể thuần Việt, vd: thóc lúa, cày cấy, chia sẻ, đùm bọc, ghen ghét, cay đắng…
--Có thể Hán Việt, vd: bình đẳng, tổ quốc, lạc quan, khả năng, tục huyền…
--Có thể hỗn từ (hỗn=trộn lẫn), vd: bụi trần, da liễu, đơn chiếc, hiểm nghèo, học trò, bói toán, bồi đắp, chi trả, nuôi dưỡng, quê hương, thoái lui, sức lực, mùi vị, sự việc, tài giỏi, tuyển chọn, xương cốt, yến tiệc… Và linh tinh gần đây, in ấn, đạo nhái, siêu bền, chỉnh sửa, quốc giỗ, quy chụp,  khai màn (khai mạc), di dời, vụ việc, hấp hôn… (từ gốc Hán được gạch dưới).
Các hỗn từ thể hiện sự phối hợp hữu ích, thông dụng và tinh xảo giữa từ Nôm và từ Hán.

Các từ Hán Việt giúp làm tăng từ một lên 3 lần khả năng tạo từ đôi mới trong tiếng Việt.

Có những từ Hán Việt thuộc loại rất khó, ít sử dụng, vd: ‘lân tuất’, ‘trừ tịch’, ‘bỉ sắc tư phong’, phải được chú thích nghĩa. Nhiều từ khác, năng gặp hơn, vd: ‘kỳ phùng địch thủ’, bạn ‘cố tri’, người ‘tâm phúc’, người ‘thục nữ’, ‘thiên kiều bá mị’. 
Tất nhiên mọi người đều dễ dàng hiểu nghĩa các từ phức ấy, lắm khi ngỡ là tiếng thuần Việt. Đại khái kỳ phùng địch thủ = kẻ ngang tài, bạn cố tri = bạn quen cũ, người tâm phúc = người tin cẩn, thục nữ = người đàn bà đức hạnh, thiên kiều bá mị = xinh đẹp tuyệt vời.

Song chỉ những ai nắm được nghĩa của mỗi từ đơn Hán Việt, vd: ‘kỳ’= đánh cờ, phùng= gặp, cố= xưa, tri = biết, tâm = tim, ‘phúc’= bụng, thục = hiền lành v.v… thì từ đó mới có thể thao tác chúng để tạo thêm từ phức khác. Thí dụ đã có ‘tọa cụ’ của các thiền sư, lại đặt thêm từ ‘ngọa cụ’.
Chữ cụ具jù = đồ dùng vốn đã cung cấp cho tiếng Việt hàng loạt từ đôi thông dụng: cụ thể, dụng cụ, công cụ, khí cụ, nhạc cụ, họa cụ, cụ bị, nông cụ, học cụ, hình cụ, gia cụ, quân cụ, y cụ, đạo cụ…

Có nhiều biện pháp tu từ để làm giàu từ ngữ tiếng Việt. (xem tiếp, Phần 2).

Lê Bá Vận.

Posted: 04/09/2022 #views: 101
 Để lại lời bình:
Tác gỉa:
Email:
Lời bình:
 

Lời bình:

1
  BÀN VỀ LÀM GIÀU TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT - 09/04/2022

Từ ngữ tiếng Việt hiện tại ngày càng phong phú đáp ứng được nhu cầu diễn đạt mọi khía cạnh của đời sống văn minh hiện đại. Có những yếu tố quan trọng quyết định cho các thành tựu ấy.

Đọc thêm…
  NỮ TRẠNG NGUYÊN DUY NHẤT TRONG SỬ VIỆT - 09/13/2020

Trần Hưng - Thời xưa “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được xem là việc của đàn ông, vì thế mà cảnh đèn sách đi thi của các sĩ tử thì tuyệt chỉ có nam giới, không hề có bóng nữ nhi nào.

Đọc thêm…
  VĂN HOÁ SÔNG NƯỚC Ở NAM BỘ NHÌN TỪ KHẢO CỔ HỌC - 06/07/2020

Nguyễn Thị Hậu - Địa hình sông nước ở Nam bộ là điều kiện tự nhiên vốn có và bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã trở thành hiện thực và thời đại “toàn cầu hóa”, sự tồn tại của một dòng sông dù lớn như Mekông hay chế độ nước,...

Đọc thêm…
  NÊN GỌI TÊN GÌ CHO ĐÚNG....!? - 04/19/2020

Chung Dang - Người Việt Nam bắt đầu gọi nước Tàu là Trung Quốc từ bao giờ? Thật ra trước 1975, ở miền Nam không ai gọi là Trung Quốc cả. Có lẽ từ này xuất phát từ nước XHCN anh em phía bắc chăng.

Đọc thêm…
  NGÀY XUÂN VIẾT THÊM VỀ CHUYỆN THÁNG GIÊNG: TỪ CHIẾN THẮNG ĐỐNG ĐA ĐẾN GIỖ TRẬN ĐỐNG ĐA - 01/07/2020

Phạm Cao Dương - “Nói chuyện Tháng Giêng” là đề tài tôi viết để gửi đăng trên một số các báo xuân ở Hải Ngoại cách đây nhiều năm. Câu chuyện xoay quanh một số các từ ngữ từ sau năm 1975, vì lý do này hay lý do khác, hầu như không còn được dùng nữa.

Đọc thêm…
  LIÊN HIỆP QUỐC.VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ NHÂN QUYỀN - 11/23/2019

Trần Xuân Thời - Liên Hiệp Quốc, ngoài nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự thế giới, còn đóng vai trò tích cực trong vấn đề bảo vệ nhân quyền qua Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được ban hành ngày 10 tháng 12 năm 1948 đến nay đã gần thứ 70.

Đọc thêm…
  TẠI SAO KHÔNG NÊN DÙNG CHỮ "TRUNG QUỐC” - 06/24/2019

Trần Đức Dũng - Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông.

Đọc thêm…
  NGUỒN GỐC CÂU THÀNH NGỮ “CON KIẾN MÀ KIỆN CỦ KHOAI” - 04/16/2019

Khiêm Từ (ĐKN) - Ngày nay, câu thành ngữ “Con kiến mà kiện củ khoai” thường được dùng để chỉ tình cảnh kiện tụng vô ích,

Đọc thêm…
  NGƯỜI VIỆT NAM BẮT ĐẦU GỌI NƯỚC “TÀU” LÀ “TRUNG QUỐC” TỪ BAO GIỜ - 03/24/2019

Khuyết danh - Chỉ có CSVN tay sai bán nước và nô lệ Hán(g) cẩu và những người Việt cộng hoặc người Việt nEm mới gọi nước Tàu và người Tàu (khựa) là Trung Quốc và người Trung Quốc mà thôi.

Đọc thêm…

Xếp Theo Loại:

Xếp theo thời gian:

Webmaster: copywright @ 2015 viettorg.com

Online: 32Reserved: 29 United States: 3 
vietorg.comTrương MụcHội ĐòanQuảng CáoĐiều Lệ
Vài Nét VềGhi Danh Lệ phíXử dụng Vietorg.com
Liên Lạc