11373, 21, 224
Trương Mục mới
Login
Trang nhà
 
Tin tức
 
Bài viết
 
Phim ảnh
 
Thư viện
 
Lich Trình
 
Thương mại/Dịch vụ
 
Đời sống
 
Diễn đàn
 
Kết nối
 
Liên lạc
 
Thư viện - Danh mục:  > Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh
Đăng bài mới
Sủa bài này
Email bài này cho tôi
English
 Tài Liệu Lịch Sử & Chiến TranhTrở lại phần chính
     Chủ Nghĩa
     Chính Phủ
     Sức Khỏe & Y tế
     Giáo dục - Văn Hóa & Xã Hội
     Tủ Sách
     Phong Cảnh, Địa lý
     Những chế độ Cộng sản, độc tài bị sụp đổ
     Khoa Học & Kỹ Thuật
     Nghệ Thuật & Trang Trí
     Kiến Trúc
     Xã Hội & Đời Sống
     Sắc Đẹp
     Ký ức & Hồi ký
     Ngôn Ngữ
     Âm Nhạc & Giải Trí
     Thể Thao
     Tôn Giáo
     Tình Yêu & Tình Bạn­
     Gia Đình­
     Child Care­
     Mẹo Vặt
     Phong Tục Tập Quán
     Chuyện lạ
     Sưu tầm
     Thực Phẩm
     Môi trường
     Vệ sinh

Bài mới nhất:
1 - TỪ ẢI NAM QUAN TỚI MŨI CÀ MAU
2 - TÂY TẠNG: 20 NĂM BI HÙNG CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VỚI SỰ GIÚP ĐỠ CỦA CIA (P2)
3 - TÂY TẠNG: 20 NĂM BI HÙNG CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC VỚI SỰ GIÚP ĐỠ CỦA CIA (P1)
4 - VÌ SAO GẦN MỘT NỬA NGƯỜI VIỆT CÙNG MANG HỌ NGUYỄN ?
5 - HỌ NGUYỄN VÀ HÔN NHÂN CHÁNH TRỊ
6 - SÀI GÒN: MIỀN ĐẤT HỨA
7 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: NANH VUỐT TRUNG CỘNG
8 - “TIẾNG GỌI CÔNG DÂN”
9 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: TRUNG CỘNG BẪY NỢ
10 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA THỜI CẬN ĐẠI
11 - CHIẾN TRANH 1954-1975 TRONG CHIẾN TRANH LẠNH TRÊN THẾ GIỚI
12 - NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975, BẠN ĐANG Ở ĐÂU? LÀM GÌ ?
13 - DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN - KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN
14 - BÀI XÍCH THUYẾT VIỆT NHO VÀ HUYỀN SỬ CON RỒNG CHÁU TIÊN ĐỂ LÀM GÌ?
15 - LẬT LẠI VỤ ÁN XỬ TỬ MẤY NGÀN SĨ QUAN VIỆT MINH
16 - DŨNG TƯỚNG ĐẠI VIỆT ĐÁNH BẠI QUÂN NGUYÊN MÔNG 2 LẦN TRÊN ĐẤT TRIỀU TIÊN, ÔNG LÀ AI ?
17 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 3 – HẾT)
18 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 2)
19 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 1)
20 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 8)
21 - 100 NĂM TRƯỚC, ĐIỀU KỲ DIỆU XẢY RA TRONG ĐÊM GIÁNG SINH NHƯNG BÁO CHÍ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐƯA TIN
22 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 7)
23 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 6)
24 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 5
25 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 4)

Xếp theo loại:
Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh(261)


Xếp theo thời gian:
2018 (20)
2017 (41)
2016 (118)
2015 (26)
2014 (32)
2013 (9)
2011 (11)
2010 (2)
2009 (2)
 
TỪ ẢI NAM QUAN TỚI MŨI CÀ MAU

 

TỪ ẢI NAM QUAN TỚI MŨI CÀ MAU

 

Image result for Nước Việt Nam ta, chạy dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau

Nước Việt Nam ta, chạy dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mâu

Nguyễn Khắp Nơi - Từ khi học tiểu học, chúng ta đều đã được học về Sử Ký và Địa Lý của Việt Nam. Chắc hẳn các bạn đều còn nhớ nằm lòng câu văn:

“Nước Việt Nam ta, chạy dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau”.

Muốn vẽ về bản đồ Việt Nam, chúng ta chỉ cần vẽ một chữ S. Đằng đầu chữ S, chúng ta ghi “Ải Nam Quan” và ỡ đằng cuối của chữ S, chúng ta viết “Mũi Cà Mau” thế là xong.

Ải Nam Quan được xây từ năm nào? Tên này do ai đặt ra?

Ải Nam Quan vào năm 1880: Chỉ có một dẫy tường xây chặn ngang vùng thung lũng. Trên đỉnh núi có một tháp canh duy nhất

Không có sử sách nào của cả Việt Nam lẫn Trung Hoa ghi rõ cả. Chỉ biết rằng, Ải Nam Quan là cửa ải cuối cùng của Trung Hoa và là cửa ải đầu tiên của Việt Nam. Vậy thôi!

Quốc Lộ 1 của Việt Nam, đi từ Bắc vào Nam, cũng bắt đầu từ Ải Nam Quan, với cột cây số đầu tiên, ghi: 0 Km.

Đáng buồn thay, vào ngày 23 tháng 2 năm 2009 vừa qua, chính quyền Cộng Sản Bắc Việt đã làm lễ nhượng Ải Nam Quan cho Trung Cộng.

Tổ tiên chúng ta, trải qua hằng ngàn năm, đã trải biết bao xương máu mới giữ vững được giải sơn hà hình chữ S. Nay bọn Việt Cộng khiếp nhược, hèn yếu, đã tự hiến dâng Cửa Ải Nam Quan với phần đất hàng trăm cây số ở phương bắc và phần lớn diện tích vùng biển ngoài khơi cùng với các hải đảo Trường Sa, Hoàng Sa cho Trung Cộng.

Cột cây số 0 km, nay không còn là 0km nữa, mà bị đẩy lùi 700m sâu vào trong lãnh thổ Việt Nam.

Là con dân của nước Việt, chúng ta thật là đau lòng chua xót khi thấy đất đai, lãnh hải của mình bị mất đi.

Chúng ta phải làm một cái gì đó để lấy lại những phần đất và biển đã bị bọn chính quyền Việt Cộng cúng cho quan thầy Trung Cộng.

Chúng ta hãy cùng nhau đi ngược dòng lịch sử để tìm hiểu:

A. Lịch sử Ải Nam Quan.

B. Ải Nam Quan và những trang sử hào hùng của dân Việt.

C. Tại sao bọn Việt Cộng lại hèn nhát dâng Ải Nam Quan và một phần lãnh hải của Việt Nam cho Trung Cộng?

D. Làm sao để gìn giữ đất nước Việt Nam?

Buổi lễ hèn nhát dâng nạp Ải Nam Quan cho Trung Cộng. Hình chụp Phạm Gia Khiêm và Chủ tịch Tỉnh Quảng Tây

A. LỊCH SỬ ẢI NAM QUAN

A1. Theo ông Tâm Quang-Langlet:

Trong bài "La perception des frontières dans l'Ancien Vietnam à travers quelques cartes vietnamiennes et occidentales" (tạm dịch: Quan niệm về biên giới ở Việt Nam thời trước qua vài bản đồ Việt Nam và Tây Phương) trong quyển "Les frontières du Vietnam, Histoire des frontières de la péninsule indochinoise" (Biên giới của Việt Nam, Lịch sử các biên giới trên bán đảo Ðông Dương), nhà xuất bản L'Harmattan, 1989, cho biết rằng: Trên bản đồ Hồng Ðức (được thiết lập vào năm 1490) có vẽ hình một cái đồn để tượng trưng cho ải Nam Quan và có ghi chú là Ải Nam Quan nằm ở huyện Văn Uyên (thuộc trấn Lạng Sơn, tức là thuộc về Việt Nam) và tại đấy có hai đài: Đài Chiêu Ðức (thuộc về Trung quốc) và Đài Ngưỡng Ðức (thuộc về Việt Nam).

Image result for Nước Việt Nam ta, chạy dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau

Ải Nam Quan. So với hình thứ nhất, đã đuợc xây thêm lầu, màu trắng và hai dẫy nhà ở hai bên đỉnh núi

A2. Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882):

"Ải Nam Quan cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh. Đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai đã tu bổ lại, có thêm tên nữa là "Ðại Nam Quan", phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề "Trấn Nam Quan". Dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu (1781) đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có "Chiêu Đức Đài", đằng sau đài có "Ðình Tham Đường" (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có "Ngưỡng Đức Đài" của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ."

Ghi chú:

• Theo Từ điển Việt Pháp của J.F.M. Genibrel, Nhà in Tân Định, Sài Gòn, 1898, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, chụp in lại năm 1973, thì: 1 trượng = 10 xích; 1 xích = 0,487 m. Vậy 1 trượng = 4,87 m.

• Theo những dịch giả bộ Cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, viết tắt là Cương mục, bản dịch Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội 1957, , sđd. tr. 160.): 1 trượng = 10 thước Tầu. 1 thước Tầu = 0,3333 thước Tây. Vậy 1 trượng = 3,33 m.
Theo hai con số khác nhau đó, lấy trung bình cộng, thì Ải Nam Quan cao khoảng 488m.

Image result for Nước Việt Nam ta, chạy dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau

Trang 366 và 367 của Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí”

Năm 1774, Ðốc trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng Ðang cho tu sửa, xây lại Ải Nam Quan bằng gạch. Về việc sửa sang đài Ngưỡng Ðức, văn bia của Nguyễn Trọng Ðang ghi khắc có đoạn như sau:

"… Ðài "Ngưỡng-Ðức" không biết dựng từ năm nào; hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia-Tĩnh nhà Minh, ngang với niên-hiệu Nguyên-Hòa, đời vua Lê Trang Tông ở nước ta. Ðài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ; sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê ta trung hưng, đời thứ 14, vua ta kỷ-nguyên thứ 41, là năm Canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn-Long nhà Thanh;

Ðang tôi làm chức Ðốc-trấn Lạng-Sơn, trải qua 5 năm là năm Giáp-thìn; sửa chữa lại, xây dựng bằng gạch ngói, đài mới có vẻ uy nghi…".

A3. Theo "Ðịa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ" của Ngô Vi-Liễn, Phạm Văn-Thư và Ðỗ Ðình-Nghiêm (Nhà in Lê Văn-Tân xuất-bản, Hà-Nội, 1926):

"Cửa Nam-Quan ở ngay biên-giới Trung-quốc và Việt-Nam. Kể từ Hà-Nội lên đến tỉnh Lạng-Sơn là 150 km; đến cây-số 152 là chợ Kỳ-Lừa; đến cây-số 158 là Tam-Lung; đến cây-số 162 là Ðồng-Ðăng; đến cây-số 167 là cửa Nam-Quan đi sang Long-Châu bên Tàu. Như vậy từ Ðồng-Ðăng lên cửa Nam-Quan có 5 km; từ Kỳ-Lừa lên Nam-Quan mất 15 km [về phía tây-nam chợ Kỳ-Lừa có động Tam-Thanh, trước động Tam-Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô-Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng-Sơn] và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km."

Chúng ta hẳn còn nhớ câu chuyện về Nàng Tô Thị bồng con đứng chờ chồng đi chinh chiến miền xa:

“Đồng Đăng có Phố Kỳ Lửa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.”

Đứa con lớn lên, một tối, hỏi mẹ, cha nó đâu? Bà đã chỉ vào bóng mình in trên tường mà trả lời rằng: Cha con đó, mỗi tối sẽ hiện về chơi với con. Để rồi sau đó, khi người chồng trở về, đứa con đã không nhận ông ta là cha, mà nói rằng “Cha tôi đến tối mới về”. Người chồng nghi vợ có nhân tình, bà chưa kịp giải thích thì người chồng đã quá nóng nẩy đánh đuổi bà đi, tới nỗi bà buồn quá mà tự tử chết. Đến tối, người cha ngồi ôm con, thấy bóng cha hiện trên tường, đứa con mới chỉ bóng mà nói: “Đây đây cha tôi đến tối mới về”. Người chồng hiểu ra thì vợ đã chết rồi.

A4. Theo quyển "Phương Ðình Dư địa chí" của Nguyễn Văn Siêu (bản dịch của Ngô Mạnh-Nghinh, Tự-Do xuất-bản, Saigon, 1960):

"Cửa hay Ải Nam-Quan, đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy (hay Pha-Dữ), ở về phía bắc châu Văn-Uyên, trấn Lạng-Sơn. Từ châu Bằng-Tường (tỉnh Quảng-Tây) bên Trung-quốc muốn vào nước An-Nam phải qua cửa quan này".

B. ẢI NAM QUAN VÀ NHỮNG TRANG SỬ HÀO HÙNG CỦA DÂN VIỆT.

Ngay từ thời lập quốc của Việt nam, Trung Hoa luôn luôn tìm dịp để chiếm nước ta, một quốc gia nhỏ bé nhưng có đất đai phì nhiêu mầu mỡ, có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Bọn chúng chỉ có hai đường tiến quân sang nước ta: Đường thủy và đường bộ.

Trận chiến bằng đường bộ đầu tiên, xẩy ra vào năm 41. Hán Quang Võ (Han Kuang-wu, trị vì 25-57) sai Mã Viện đem quân sang đánh Hai Bà Trưng. Mã Viện đi dọc theo bờ biển Quảng Đông, xuống cổ Việt, xuyên qua núi non vùng Đông Triều, tiến về phía tây, tấn công Hai Bà Trưng tại Mê Linh, Châu Diên (vùng Phúc Yên, Sơn Tây ngày nay).

Trận chiến đường thuỷ đầu tiên xẩy ra vào năm 938. Vua Nam Hán là Lưu Cung sai con là Hoang Thao mang chiến thuyền vượt biển, theo đường sông Bạch Đằng đổ vào tấn công nước ta. Ngô Quyền phục binh dùng thế đóng cọc nhọn và nuớc thủy triều đánh tan toàn bộ chiến thuyền nhà Hán, giết chết Hoang Thao. Hán Vương phải ra lệnh thu tàn quân trở về.

Kể từ đó, Trung Hoa không dùng đường biển để tấn công Việt Nam nữa, mà chỉ chú trọng vào đường bộ mà thôi. Dù là tiến quân bằng cách nào đi nữa, chúng cũng phải đi qua những vùng núi non thật hiểm trở. Lạng Sơn nằm ngay trên con đường chiến lược quan trọng chính của những cuộc hành quân xâm lăng của Trung Hoa tiến vào Việt Nam. Muốn tiến vào Lạng Sơn, bọn chúng bắt buộc phải đi qua một ngọn đèo, và trên ngọn đèo đó là Ải Nam Quan.

Ải Nam Quan nằm ở địa đầu của Lạng Sơn, là tiền đồn ngăn chận những cuộc xâm lăng từ bắc phương và cũng là chiến địa của những trận giao tranh đẩm máu, ghi dấu những chiến tích lẫy lừng của quân dân Việt Nam.

B1. Lý Thường Kiệt Đại Thắng Quân Nguyên 1077:

Việc giao thiệp giữa Đại Việt và Trung Hoa căng thẳng trở lại khi Tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch (1021-1086) muốn mưu tìm một chiến công ở ngoài biên cương để hỗ trợ chính sách cải cách ở trong nước của ông ta. Triều đình nhà Lý ở Đại Việt dò biết được những chuẩn bị của Trung Hoa, liền quyết định theo kế sách: “Tiên hạ thủ vi cường” mà cử hai Tướng Lý Thường Kiệt (1019-1105) và Tôn Đản đem mười vạn quân theo hai đường thủy bộ tấn công trước, đánh phá Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay), Ung Châu (tức Nam Ninh thuộc Quảng Tây ngày nay), lấy của rồi rút lui.

Tháng chạp năm Bính Thìn (qua đầu năm 1077), vua Trung Hoa là Tống Thần Tông (trị vì 1067- 1085) sai Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ và Triệu Tiết làm Phó chiêu thảo sứ, đem quân sang trả thù, đồng thời ước hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp (Chen-la tức Cambodia) cùng một lần đem quân đánh Đại Việt từ hai mặt.

Lý Thường Kiệt chận quân Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu chảy qua xã Như Nguyệt, Bắc Ninh). Quách Quỳ chuyển quân đến khúc sông Phú Lương (sông Hồng ở Thăng Long). Lý Thường Kiệt tiếp đánh nhưng thế giặc rất mạnh. Sợ binh sĩ nãn lòng, Lý Thường Kiệt phao tin:

Có thần nhân báo mộng cho bốn câu thơ:

"Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. "

Ông Hoàng Xuân Hãn đã dịch bốn câu thơ đó ra, như sau:

"Sông núi nước Nam vua Nam coi,
Rành rành phân định ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Bay sẽ tan tành chết sạch toi."

Quân lính nghe được những câu thơ nầy đều hăng hái đánh giặc, quân nhà Tống bị chận đứng. Hai bên cầm cự với nhau bất phân thắng bại. Triều đình nhà Lý đề nghị bãi binh. Nhà Tống thấy khó thắng, đồng thời binh sĩ ở lại lâu không hạp thủy thổ, đành nuốt hận mà chấp thuận lui binh.

B2. Nguyễn Trãi Phò Lê Lợi Đại Phá Quân Minh 1428:

Năm 1407, gia đình Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt ở Hà Tĩnh. Quân Minh không giết cha con Hồ Quý Ly mà chỉ giải về Trung Hoa. Trong số những vị quan bị giải theo gia đình Hồ Quý Ly, có Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi bịn rịn đưa tiễn cha lên tận ải Nam Quan. Nguyễn Phi Khanh đã nổi giận, nói với Nguyễn Trãi:

"Con phải về nhà mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo ta mà khóc lóc làm chi, cho nhụt khí làm trai!"

Vì câu nói nức lòng đó, Nguyễn Trãi tỉnh cơn mê, gạt lệ từ biệt cha để trở về mang tài kinh bang tế thế ra mà giúp Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh, khôi phục lại chủ quyền đất nước vào năm 1428.

Mục Nam Quan – Hữu Nghị Quan, được thành phố Quảng Tây xây lại vào năm 1957

Sau khi thắng Tưởng Giới Thạch vào năm 1949, Cộng Sản Trung Hoa – Trung Cộng, do Mao Trạch Đông lãnh đạo, đã đổi tên Ai Nam Quan thành "Mục Nam Quan" (cửa nhìn xuống phía nam). Hồ Chí Minh, sau khi chiếm được miền Bắc, cũng đã đổi tên Ải Nam Quan thành "Hữu Nghị Quan"(cửa hữu nghị).

Ngày 17-2-1979, Trung cộng tung trên 200.000 quân tấn công Việt Cộng qua Ải Nam Quan, chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn. Mặc dù tuyên bố rút quân vào ngày 5-3-1979, quân Trung cộng vẫn chiếm giữ vùng đất phía nam Ải Nam Quan, và trạm quan thuế của Việt cộng phải dời sâu vào trong lãnh thổ.

C. TẠI SAO BỌN VIỆT CÔNG LẠI HÈN NHÁT DÂNG ẢI NAM QUAN VÀ MỘT PHẦN LÃNH HẢI CỦA VIỆT NAM CHO TRUNG CỘNG?

Thác Bản Giốc, thuộc địa phận tỉnh Cao Bằng, đã bị bọn Việt Cộng dâng nhượng cho Trung Cộng. Hiện nay, thác này đã được Trung Cộng quảng cáo là địa điểm du lịch của họ, mời chính người Việt Nam đi thăm.

Chỉ vì hèn nhát, muốn giữ lại chức vụ để vinh thân phì da, đục thủng ngân sách, lấy cắp tiền bạc trong những dự án được quốc tế đài thọ.

C1. Mất điểm tựa về chính trị, quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam (Việt Minh) do Hồ Chí Minh thành lập vào năm 1930, nhưng không phải ở Việt Nam, mà ở Hồng Kông. Mục đích duy nhất của đảng này chỉ là để thi hành chỉ thị của Cộng sản quốc tế, truyền bá tư tưởng cộng sản, nhuộm đỏ toàn cõi Đông Dương. Vì lý do đó, Việt Minh đã được hai đảng cộng sản Nga và Trung Cộng hết lòng giúp đỡ để xâm nhập về Việt Nam. Trung cộng, do địa thế nằm sát cạnh Việt Nam, nên đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Minh.

Sau khi đánh thắng Tưởng Giới Thạch rồi, không cần dùng tới súng đạn nữa, Trung cộng đã chuyển hết vũ khí của mình qua cho Việt Minh. Cũng nhân dịp này, chúng lùa đám lính không cần thiết nữa về Việt Nam làm cố vấn, bắt bọn Việt Minh phải nuôi ăn ở và lập gia đình với gái Việt. Theo chân đám lính, là đám dân Trung hoa đói khổ tràn tới vùng biên giới Trung Việt chiếm đất lập làng xã để rồi sau đó tuyên bố đó là đất của Trung Hoa. Việt Minh biết việc này, nhưng lại rất mừng rỡ, vì mỗi khi bị quân Pháp đánh đuổi, chúng trà trộn vào với dân Tầu mà trốn, không bị lộ hình tích. Từ đó, dân Hoa kiều đã thâm nhập vào càng ngày càng đông, đất càng ngày càng bị chiếm.

Vào những năm cuối của cuộc chiến Việt Nam, Nga và Trung Cộng đã có những rạn nứt, anh em bắt đầu cấu xé lẫn nhau. Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam năm 1975, Cộng sản Hà Nội đã ngã hẳn về phía Liên Xô. Ngày 3-11-1978, Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, đã sang Nga ký với Leonid Brezhnev, Tổng bí thư đảng Cộng Sản Nga một hiệp ước quân sư, mang tên “Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa Nga và Việt Nam”, đẩy Trung Cộng ra ngoài cuộc chơi.

Vào ngày 7-1-1979, Việt Cộng đã xua quân xâm lăng Căm Bốt với những mục đích như sau:

• Thực hiện mộng bá chủ vùng Đông Dương và nhuộm đỏ vùng này,

• Trong cuộc chiến xâm lăng này, đa số binh lính tham chiến là những thanh niên của thời Việt Nam Cộng Hòa, đã được “Trúng tuyển nghĩa vụ quân sự”. Thực sự, đó là chính sách “Nhổ cỏ nhổ tận rễ”: Sau khi đã đem những Sĩ Quan Miền Nam đi tù đầy ở những vùng rừng núi hoang vu hoặc ở tuốt ngoài miền Bắc xa xôi, bọn Việt Cộng đã đem luôn đám hậu sinh đi chinh chiến. Nếu chúng bị thua, những thanh niên này – mầm mống của những nổi loạn còn sót lại ở Miền Nam– sẽ chết hết hoặc chết dần chết mòn đi. Miền Nam sẽ không còn ai để mà chống lại bọn chúng nữa.

• Chính quyền Căm bốt vào lúc đó, đang được Trung Cộng đỡ đầu. Đánh Căm Bốt tức là chặt đứt cánh tay của Trung Cộng muốn ăn lấn vào vùng Đông Dương.

• Với Nga dàn trận ở biên giới Nga Tầu, Việt Nam hùng cứ ở Đông dương, Trung cộng sẽ bị thất thế, sẽ chịu lép mà không dám đòi những món nợ mua vũ khí đạn dược lên tới hơn 20 tỷ Mỹ Kim trong cuộc chiến Việt Nam.

Trái với dự đoán của Bắc Việt, ngày 17-2-1979, Trung cộng đã xua 6 sư đoàn (khoảng 200.000 binh sĩ) xâm chiếm Việt Nam, nói rằng, để . . . Dậy cho Việt Nam một bài học. Bộ binh Trung Cộng đã đánh thẳng vào Lào Cai Cao Bằng, Lạng Sơn . . . có nơi, bọn chúng tiến sâu vào nội địa Việt Nam tới 40km (trong khi đường bộ từ Lạng Sơn về Hà Nội chỉ vào khoảng 160 km). Mục đích của bài học này là:

• Để trả đũa vụ Việt Cộng đánh Căm bốt.

• Để lấn đất: Sau khi phá nát những di tích của Việt nam ở những vùng bị chiếm đóng, Trung cộng đã cho dời những cột mốc biên giới sâu vào trong lãnh thổ Việt Nam.

Cuộc chiến Trung – Việt chấm dứt vào ngày 5-3-1979. Mặc dù tuyên bố rút quân, nhưng trên thực tế, quân Trung cộng không rút hết về nước, mà vẫn còn ở lại chiếm giữ một số những địa điểm quân sự quan trọng trong nội địa Việt Nam. Chính vì lý do này mà trạm quan thuế Của Việt Cộng ở tỉnh Lạng Sơn đã bị dời về phía nam "Hữu Nghị Quan" (Ải Nam Quan) khoảng hơn nửa cây số.

Xui xẻo cho Việt Cộng hơn nữa, đế quốc Nga Cộng đã bị xụp đổ vào năm 1991.

Hà Nội mất điểm tựa, không còn cách nào khác, đành chới với đi cầu thân trở lại với Trung Cộng. Hết Nguyễn Văn Linh (Tổng bí thư, 1986-1991) tới Đỗ Mười (1991-1998) bay sang Bắc Kinh quỵ lụy, đến ngày 5-11-1991 Trung cộng mới đồng ý tái lập bang giao giữa hai nước.

Điều kiện của việc tái lập bang giao, dĩ nhiên là Việt Cộng phải trả lại những món nợ súng đạn thóc gạo đã vay trước đây, cộng với tiền lời.

Việt Cộng ở vào thế bí, đành nhượng Ải Nam Quan, nhượng thêm đất và nước cho Trung cộng để trừ nợ.

Việt Nam bị mất những gì?

Trên đất liền: Mất 789km2, hai phần ngàn của tổng số diện tích Việt Nam.

Ngày 30-12-1999, tại Hà Nội, bộ trưởng Ngoại giao của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nguyễn Mạnh Cầm và bộ trưởng Ngoại giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Đường Gia Truyền (Tang Jianxuan) cùng ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc. Hiệp ước nầy được quốc hội Bắc Kinh thông qua ngày 29-4-2000 và quốc hội Hà Nội thông qua 9-6-2000.

Dựa theo bản điều trần trước Viện Pháp Á (Institut Franco-Asiatique) của Bác sĩ Trần Đại Sỹ, Giám đốc Trung Hoa sự vụ Viện Pháp – Á ở Paris, Việt Nam nhượng cho Trung Quốc 789 km2 đất đai, thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn.

Nếu tính theo diện tích của toàn thể Việt Nam là 330.000 km2, thì diện tích đất mà Việt Cộng đã nhượng cho Trung cộng (789 km2) lên đến khoảng trên 0.2% của diện tích nước Việt Nam,trên 2 phần ngàn.

(Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa dài khoảng 1.300 cây số, trong đó đường biên giới giữa Lạng Sơn và Trung Hoa dài 253 cây số. Nếu tính dọc theo toàn bộ đường biên giới tỉnh nầy, thì Việt Cộng đã nhượng cho Trung cộng khoảng 3km sâu vào nội địa Việt Nam. (253 km X 3 km = 759 km2).

Trên biển cả: Việt Nam mất đi trên 8% diện tích vịnh Bắc Việt.

Khi còn trong cuộc chiến với Miền Nam, Phạm Văn Đồng đã ký hiệp ước nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh hải Trung Hoa. Đồng đã chơi trò tháu cáy: Hoàng sa và Trường Sa lúc đó thuộc về Việt Nam Cộng Hòa, đâu có thuộc về Miền Bắc đâu! Cho một hòn đảo không thuộc thẩm quyền của mình, đâu có mất mát gì đâu mà phải suy nghĩ! Vì thế, khi Chu Ân Lai công bố ranh giới biển 12 hải lý từ bờ biển ngày 4-9-1958, thì mười ngày sau, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt cộng sản – đương nhiên với sự đồng ý của Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng Lao Động, đã ký nghị định thư ngày 14-9-1958, nhìn nhận ranh giới biển nói trên của Trung Cộng, nghĩa là gián tiếp công nhận chủ quyền của Tầu cộng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đảng CSVN đã chính thức dâng đất cho Trung cộng mà tổ tiên đã dày công xây dựng và bảo vệ.

Ngày 25-12-2000, tại Bắc Kinh, đại diện hai nước Việt Nam và Trung Hoa (chưa tiết lộ danh tánh) đã ký Hiệp ước phân định lãnh hải, phân chia quyền lợi trên vịnh Bắc Việt, dưới sự chứng kiến của chủ tịch Nhà Nước Bắc Việt, Trần Đức Lương và chủ tịch Nhà Nước Trung Cộng, Giang Trạch Dân.

Hiệp ước phân định lãnh hải Vịnh Bắc Việt đã phân định như sau:

53,23% cho Việt Nam, 46,77% cho Trung Cộng.

Trước đây, theo hiệp ước Pháp Hoa ngày 26-6-1887, đường ranh giới hải phận (Zone Économique Exclusive) giữa Việt Nam và Trung Hoa tại vịnh Bắc Việt được phân định theo kinh tuyến Greenwich, tính ra:

Việt Nam được 62%, Trung Cộng 38% của Vịnh Bắc Việt.

Vịnh Bắc Việt rộng 126.250 km2, so với cách phân chia lãnh hải cũ, Việt Nam mất đi trên 8% diện tích vịnh Bắc Việt, tương đương với khoảng trên 10.000 km2.

C2. Mượn nợ quá nhiều, không có tiền trả.

Trong cuộc chiến xâm lăng Miền Nam, trên lý thuyết, Nga và Trung cộng đã giúp Cộng Sản Bắc Việt vũ khí chất nổ và lương thực trong tình thân hữu. Nhưng trên thực tế, đó là một hợp đồng mượn tiền có lời. Sau khi đã chiếm được miền Nam, bọn Việt Cộng tính bám theo Nga để chạy làng món nợ với Trung Cộng. Nay bị bể mánh, không có tiền trả nợ, bọn Việt Cộng phải dâng đất trừ nợ.

Theo tài liệu của Trung Cộng, từ 1954 đến 1976, nước này đã việt trợ và giúp đỡ cho Việt Nam:

• Hơn 300.000 binh sĩ vào Việt Nam để chiến đấu bên cạnh binh sĩ Bắc Việt, trong đó hàng ngàn người đã tử trận và hàng chục ngàn người đã bị thương.

• 2 triệu súng cá nhân với 270 triệu băng đạn – 27.000 đại bác với 18 triệu đạn – 179 máy bay và 145 chiến hạm.
Tổng số viện trợ này giá khoảng 20 tỷ Mỹ kim theo thời giá 1976.

Theo cách tính của những tay cho vay lời chuyên nghiệp, lời tính vào vốn, vốn mới tính thành lời mới . . . v. . . v, món nợ này cho tới ngày hôm nay, có thể lên tới hàng trăm tỷ Mỹ kim.

Làm sao mà bọn Việt cộng cỏ thể trả nổi số nợ này? Suy đi tính lại, chỉ còn có một cách là dâng đất để trừ nợ mà thôi.

C3. Tiền bạc do tham nhũng, ăn cắp của công đã quá nhiều. Sợ bị mất tiền của, mất địa vị, bọn chính quyền Bắc Việt phải đành nhượng bộ để cầu vinh.

Kể từ ngày chiếm được miền Nam, bọn Việt cộng không làm được bất cứ một công việc gì ích quốc lợi dân, mà chỉ chăm chú bòn rút của cải của nhân dân Miền Nam, ăn cắp ngân quỹ cho các công tác được quốc tế viện trợ hoặc lợi dụng quyền thế để tham nhũng hối lộ.

Trong khi dân chúng đói khổ buôn thúng bán bưng, ăn mày cùng đương khắp chốn, thì bọn cầm quyền đã dùng tiền ăn cắp để vui chơi: Trong thời gian diễn ra những trận đá banh của World Cup, Bùi Tiến Dũng, giám đốc tổng công ty PMU, đã đánh cá một trận đá banh lên tới 760,000 USD

Bùi Tiến Dũng, chỉ là giám đốc hạng nhỏ ở Việt Nam, mà đã có dư tới cả triệu USD để đánh cá đá banh World Cup 2006

Vào năm 2002, khi Việt Nam chuyển từ tiền giấy sang tiền giấy nhựa polymer, Lê Đức Minh, con trai của Lê Đức Thúy, Thống Đốc Ngân Trung Ương Việt Nam, đã lợi dụng vị thế của cha (hoặc cha dùng con làm tay sai) để môi giới cho việc in tiền với một công ty in tiền của Úc, lấy tiền huê hồng hơn 10 triệu đồng Úc Kim

Trong khi con cái của dân nghèo: Con trai thì phải đem sức đi làm thuê, con gái thì phải đem thân đi làm vợ khắp thế giới, để kiếm sống cho mình và cho gia đình, thì bọn Việt Cộng đầu sỏ vung tiền ăn cắp đi cất ở những ngân hàng ngoại quốc hoặc mua tài sản ở các nước tư bản trên thế giới. Con cháu của bọn chúng được gởi đi du học ngoại quốc, tiêu xài không tiếc tiền.

Tiền của quá nhiều, đang đà hưởng thụ, bây giờ bị bọn Trung cộng đòi tiền sát ván, bọn cầm đầu chính quyền đã biết rằng, nếu không thỏa mãn điều kiện của Trung cộng, bọn này có thể tạo ra một cuộc đảo chánh, giết chết hết bọn lãnh đạo đuơng thời, đưa ra một đám múa rối khác ngoan ngoãn hơn, biết nghe lời hơn.

Với cái viễn ảnh mất quyền lực, mất tiền của, bọn Việt cộng chỉ còn biết cúi đầu dâng đất dâng biển cho Trung cộng mà thôi.

D. LÀM SAO ĐỂ GÌN GIỮ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM?

D1. Cảnh tỉnh nhà cầm quyền Việt Cộng?

Chính quyền Cộng Sản Hà Nội đã dư biết là bọn chúng đang làm gì! Bọn chúng đã quá hèn hạ, đã dâng nhượng đất đai của cả một quốc gia cho Trung Cộng.

Bọn chúng đã coi đất đai nước Việt như là một tài sản riêng của bọn chúng, để bọn chúng muốn làm gì thì làm. Một mặt, bọn chúng nhục nhã dâng hiến đất đai cho Trung cộng, mặt khác, chúng bưng bít tin tức này thật kỹ, không cho bất cứ ai biết tới, nói tới việc dâng nhượng này. Nếu bất tuân, sẽ bị ghép tội phản động,sẽ bị băt bớ tù đầy thê thảm. Để che đậy hành động này, đối với ngoại quốc, bọn chúng chỉ nói rằng, đó là hiệp định song phương về biên giới mà thôi.

Bạn với tôi hãy thử suy tính: Ký một cái hợp đồng thôi, đã thâu vào cả chục triệu đô la, một ngày bọn chúng ký bao nhiêu cái? Một năm bao nhiêu cái? Tiền thâu vào là bao nhiêu? Phải cả bạc TỶ!

Việc cảnh tỉnh bọn Việt Cộng: Phí công, vô ích!

D2. Có Khi Nào Việt Cộng nhờ bàn tay của Mỹ để chiếm lại Phần Đất Đã Nhượng Cho Tầu Cộng?

Làm gì có chuyện này! Việt Cộng có bao giờ nói là bị Trung cộng cướp đất đâu mà phải đi nhờ Mỹ nhẩy vào cứu giúp?

Như đã nói trên, đối với bọn Việt Cộng, việc nhượng đất chì là một cuộc dàn xếp lại cột mốc biên giới trong tình anh em, chứ làm gì có chuyện bị mất đất!

Mỹ đã đánh đổi Việt Nam với việc buôn bán với Trung Cộng từ năm 1972 rồi, làm gì có việc Mỹ quay trở lại để giúp Việt Cộng. Vào năm 1974, khi xẩy ra trận hải chiến giữa hải quân Việt Nam Cộng Hòa và Trung Cộng, hạm đội thứ Bẩy của Mỹ chỉ làm lơ đứng ngoài, vậy thì bây giờ, lý do nào mà Mỹ lại phải quay trở lại giúp Việt Cộng?

Trung cộng, đang trên đà phát triển về kinh tế, cũng đã gia tăng tối đa sức mạnh về quân sự để đi tìm tài nguyên và thuộc địa. Việt Nam chỉ là một trong những nơi mà Trung cộng phải chiếm lĩnh hoặc phải nằm trong tầm kiểm soát của chúng.

Ngay như đối với Úc, một quốc gia được coi như là mạnh cả về kinh tế lẫn quốc phòng, mà Trung cộng còn chơi gác, ngang nhiên bắt đi một giám đốc của một công ty hầm mỏ lới của Úc, mà chính phủ Úc còn phải ngậm tăm, huống chi là Việt Nam.

D3. Cách thức duy nhất:

Toàn Dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, hãy đoàn kết lại, hãy làm những gì mà người dân Ba Lan, Đông Đức và Nga sô đã làm năm 1989:

12-05-1988: Công đoàn Đoàn Kết tổng đình công làm tê liệt Ba Lan.

04-06-1989: Lần đầu tiên sau 45 năm dưới chế độ cộng sản Ba Lan, một cuộc bầu cử tự do dân chủ đã được thực hiện. Người dân Ba Lan bằng lá phiếu đã loại bỏ chế độ độc tài toàn trị, bắt tay vào xây dựng một quốc gia dân chủ. Chính ông tổng bí thư thứ nhất đồng thủ tướng cộng sản cuối cùng của Ba Lan, Mieczyslaw Rakowski tuyên bố giải tán đảng cộng sản tại Sảnh đường Đại hội .

09-11-1989: Dân chúng đứng lên phá xập bức tường Bá Linh.

Bức Tường Ô Nhục Bá Linh (bên trái là Đông Đức, bên phải là Tây Đức): Xây năm 1962, bị phá xập năm 1989.

03-10-1990: Cộng sản Đông Đức tan rã. Nước Đức thống nhất.

24-8-1991: Mikhail Gorbachev tuyên ngôn giải tán đảng cộng sản Nga và từ chức tổng bí thư.

17-12-1991: Liên Bang Cộng Hòa Sô Viết giải tán. Chế độ cộng sản tan rã toàn diện tại Nga và tất cả các quốc gia Đông Âu.

Lời nhắn gởi những bộ đội của Việt Nam:

Quý vị là quân nhân, nhiệm vụ của quý vị là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc, chứ không phải bảo vệ chế độ Cộng sản và bọn cầm quyền Hà Nội.

Tổ quốc đang lâm nguy, quý vị hãy làm công việc mà tổ quốc và nhân dân giao phó cho mình.

Bánh xe lịch sử đang quay, mặc dù nó quay chậm, nhưng quay rất vững chắc và mạnh mẽ. Bánh xe lịch sử không bao giờ đứng yên hoặc quay ngược trở lại.

Điều gì hợp lòng dân thì còn, ngược lòng dân sẽ bị tiêu diệt. Bạo quyền Cộng sản đã tới ngày cáo chung.

Với một chính quyền mới, do dân và vì dân, chắc chắn thế giới sẽ giúp chúng ta thu hồi lại những gì đã mất.

Hãy đọc Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn:

“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên, cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xẩy ra trên biên ải. Cáic việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọn biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Khộng thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ Đại Bàng thành cái tổ Chim Chích.

Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:

MỘT TẤC ĐẤT CỦA TIỀN NHÂN ĐỂ LẠI, CŨNG KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ LỌT VÀO TAY KẺ KHÁC.

Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.
 

TRẦN NHÂN TÔN.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY.


Nguyễn Khắp Nơi

 

Posted: 07/12/2018 #views: 105
 Để lại lời bình:
Tác gỉa:
Email:
Lời bình:
 
Đăng lên
 

Lời bình:


Webmaster: copywright @ 2015 viettorg.com

53  Online:     Netherlands: 23  -  United States: 30  -  
 Vài nét vềCộng Đồng & Hộì ĐòanHướng DẫnĐiều Lệ
 Vietorg.comTrương mụcXử dụng trang mạng
 Đăng Nhập
 Đăng Xuất