Notice: Undefined index: SCRNSIZE in /sysdata/html/vietorg/include/top_nav.php on line 307

Notice: Undefined offset: 0 in /sysdata/html/vietorg/include/top_nav.php on line 308

11500, 46, 224
Trương Mục mới
Login
Trang nhà
 
Tin tức
 
Bài viết
 
Phim ảnh
 
Thư viện
 
Lich Trình
 
Thương mại/Dịch vụ
 
Đời sống
 
Diễn đàn
 
Kết nối
 
Liên lạc
 
Thư viện - Danh mục:  > Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh
Đăng bài mới
Sủa bài này
Email bài này
English
 Tài Liệu Lịch Sử & Chiến TranhTrở lại phần chính
     Chủ Nghĩa
     Chính Phủ
     Sức Khỏe & Y tế
     Giáo dục - Văn Hóa & Xã Hội
     Tủ Sách
     Phong Cảnh, Địa lý
     Những chế độ Cộng sản, độc tài bị sụp đổ
     Khoa Học & Kỹ Thuật
     Nghệ Thuật & Trang Trí
     Kiến Trúc
     Xã Hội & Đời Sống
     Sắc Đẹp
     Ký ức & Hồi ký
     Ngôn Ngữ
     Âm Nhạc & Giải Trí
     Thể Thao
     Tôn Giáo
     Tình Yêu & Tình Bạn­
     Gia Đình­
     Child Care­
     Mẹo Vặt
     Phong Tục Tập Quán
     Chuyện lạ
     Sưu tầm
     Thực Phẩm
     Môi trường
     Vệ sinh

Bài mớ nhất:
1 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: NANH VUỐT TRUNG CỘNG
2 - “TIẾNG GỌI CÔNG DÂN”
3 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: TRUNG CỘNG BẪY NỢ
4 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA THỜI CẬN ĐẠI
5 - CHIẾN TRANH 1954-1975 TRONG CHIẾN TRANH LẠNH TRÊN THẾ GIỚI
6 - NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975, BẠN ĐANG Ở ĐÂU? LÀM GÌ ?
7 - DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN - KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN
8 - BÀI XÍCH THUYẾT VIỆT NHO VÀ HUYỀN SỬ CON RỒNG CHÁU TIÊN ĐỂ LÀM GÌ?
9 - LẬT LẠI VỤ ÁN XỬ TỬ MẤY NGÀN SĨ QUAN VIỆT MINH
10 - DŨNG TƯỚNG ĐẠI VIỆT ĐÁNH BẠI QUÂN NGUYÊN MÔNG 2 LẦN TRÊN ĐẤT TRIỀU TIÊN, ÔNG LÀ AI ?
11 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 3 – HẾT)
12 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 2)
13 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 1)
14 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 8)
15 - 100 NĂM TRƯỚC, ĐIỀU KỲ DIỆU XẢY RA TRONG ĐÊM GIÁNG SINH NHƯNG BÁO CHÍ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐƯA TIN
16 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 7)
17 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 6)
18 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 5
19 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 4)
20 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 3
21 - BẢO ĐẠI : TỪ HOÀNG ĐẾ VIỆT "LỰC BẤT TÒNG TÂM" ĐẾN "THƯỜNG DÂN" PHÁP
22 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 2
23 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 1
24 - AI VI PHẠM HIỆP ĐỊNH GENÈVE (20-7-1954)?
25 - 4 BÁU VẬT TRẤN QUỐC HUYỀN THOẠI CỦA VIỆT NAM NGHÌN NĂM LƯU DANH SỬ SÁCH

Xếp Theo Loại:
Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh(255)


Xếp theo thời gian:
07/2018 (3)
06/2018 (1)
05/2018 (2)
04/2018 (1)
03/2018 (3)
01/2018 (4)
2017 (41)
2016 (118)
2015 (26)
2014 (32)
2013 (9)
2011 (11)
2010 (2)
2009 (2)
 
NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975, BẠN ĐANG Ở ĐÂU? LÀM GÌ ?

 

NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975, BẠN ĐANG Ở ĐÂU? LÀM GÌ ?

 

Thành Phố Sài Gòn trong biển lửa ngày 30 tháng Tư năm 1975 (Hình của BBC).

Nguyễn Khắp Nơi - Hàng năm, cứ mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, là trong lòng người Việt Tỵ Nạn  chúng ta đều dấy lên một nỗi buồn khôn nguôi.

Không phải nỗi buồn mất nước này cứ tới ngày 30 tháng Tư thì mới trỗi dậy, mà nó đi theo trong tâm tư chúng ta bất cứ lúc nào có ai đó nhắc nhở về quá khứ hoặc là những khi gặp lại bạn bè cũ, nói dăm ba câu chuyện về đời sống hàng ngày rồi không ai bảo ai, cũng đều quay trở về thời điểm mất nước mà ôn lại chuyện cũ. Ngày 30 tháng Tư gần kề là lý do chính để mọi người chúng ta nhớ về thời điểm cuối cùng của đất nước, làm cho chúng ta đau lòng nhất mà thôi.

Nhắc lại chuyện cũ để làm gì? Để xét lại xem, vào cái ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta đã làm những gì cho tổ quốc, có hối hận vì đã không làm thêm những gì có thể làm hay không? Nếu chúng ta có thể làm thêm những điều gì đó để quốc gia còn tồn tại, thì đến bây giờ, Việt Nam Cộng Hòa sẽ ra sao?

Trong một buổi gặp mặt cuối tuần vào Chủ Nhật 22/04/2018 vừa qua, tôi có hân hạnh được gặp lại một số chiến hữu ngày xưa, cùng nhau hàn huyên chuyện cũ. Niên Trưởng và cũng là Huynh Trưởng của chúng tôi là Trung Tá Trần Văn Quản (Khóa 5 Thủ Đức) – Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 18 Tiếp Vận, Sư  Đoàn 18, đã kể lại câu chuyện của ông như sau:

Tình hình ngày 28/04/1975. Cá nhân gia đình tôi, vợ 6 con nhà ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp. Vì tình hình chiến sự sôi động, Sư Đoàn 18 vô cùng bận rộn, cấm trại liên tục. Tôi cho vợ con tạm ra sống tại nhà người bà con ở Tân định. Nhà người bạn này có cô em gái, có chồng là một Thiếu Tá Mỹ. Người này cho biết Mỹ sẽ rút đi hết và cho vợ con và bà con được cùng di tản bằng trực thăng ra Hạm Đội Thứ 7 đang đậu ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam, nếu ai muốn đi, ông ta sẽ làm danh sách chuyển lên Toà Đại sứ Mỹ để cùng đi luôn. Vợ tôi gọi điện thoại thuyết phục nhiều lần nhưng tôi cương quyết  không đồng ý.  

Tiểu Đoàn 18 Tiếp Vận tuy nói là Tiểu Đoàn nhưng vì lo phục vụ cho toàn bộ hệ thống Tiếp Vận của Sư Đoàn 18 Bộ Binh nên có một quân số rất hùng hậu trên 600 anh em quân nhân cùng làm việc. Tính đến ngày 28/04, tiểu đoàn vẫn còn quân số trên 500 anh em, tỷ lệ vắng mặt rất nhỏ. Tôi vẩn thường xuyên nhắc nhở anh chị  em nào muốn đi phép thì cứ nói, tôi chính thức cấp giấy phép đặc biệt cho đi, nhưng nếu không đi thì phải làm việc cho thật nghiêm chỉnh để yểm trợ Sư Đoàn đang có rất nhiều công tác quan trọng cần phải đảm nhiệm, vắng mặt bất hợp pháp sẽ bị phạt rất nặng.

Củng ngày 28/04/1975 tôi được lệnh thành lập một điểm tiếp liệu 15 ngày dự trử tại Trường Trung Học Kiểu Mẩu Thủ Đức. Trường Huấn Luyện Sĩ Quan mới thành lập tại Long Thành đã bị mất rồi. Phi trường Biên Hoà đang bị pháo nặng. Cũng ngày 28/04, Quân đoàn Quyết định dời về sau Cầu Biên Hoà để lập tuyến phòng thủ mới. Cầu Xa Lộ Biên Hoà đã được Công Binh đặt Mìn chuẩn bị cho xập sau khi Quân Đoàn rút khỏi Thủ Đức.

Căn cứ Long Bình và Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận củng rút về Sai Gòn ngày 29, trong lúc đó thì Tiểu đoàn Tiếp vận cũng đang di chuyển đổ tíếp liệu từ Long Bình qua Trường Kiểu Mẫu.

Trong ngày đó trên đường Biên Hoà về Sài gòn vô cùng bận rộn nhưng Sư Đoàn 18 chỉ di chuyển một số đơn vị qua phía bên kia Sông Biên Hoà để chuẩn bị tuyến phòng thủ mới mà thôi. Long Bình và Bộ Chỉ huy 3 Tiếp Vận tiếp tục di chuyển về Sài gòn.

Tối 28/04, tôi vẩn còn qua kiểm soát việc đặt điểm tiếp liệu tại Trường Kiểu Mẫu Thủ Đức,  công việc còn bề bộn quá nên tôi cũng không có thời giờ mà về Sai gòn thăm vợ con.

Sáng ngày 29/04/1975, Tướng Vĩnh Lộc Tư lệnh Quân Đoàn còn đáp trực thăng đến Phòng Hành Quân Sư Đoàn 18 để bàn về kế hoạch phòng thủ (nghe đâu sau đó ông ta bay thẳng ra Hạm Đội 7).

Chiều 29/04/1975 Thiếu Tướng Lê Minh Đảo – Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh – còn họp với các đơn vị trưởng của Sư Đoàn tại Long Bình. Ông nói:

“Chúng ta đã để cho Việt cộng tới Long Thành là chúng ta đã thua lớn, nhưng Sài gòn, Quân khu Thủ Đô và Quân khu 4 vẩn còn nguyên. Quân khu 3 vẩn còn Sư đoàn 18 và Sư Đoàn 5. Vậy chúng ta vẩn còn nhiều cơ hội để cầm chưn Công Sản bên ngoài   Biên Hoà.  Chừng 10 ngày là chúng ta có thể củng cố lại hàng ngũ để bảo vệ Sai Gòn.

Chúng ta sẽ cùng chiến đấn bên nhau cho tới phút cuối cùng.”

Vì câu nói này mà toàn bộ các Sĩ Quan cấp chỉ Huy của Sư Đoàn vẩn còn đủ mặt đến khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, để rồi tất cả anh em chúng tôi điều gặp lại nhau trong các trại tù Cộng Sản.

Chiều ngày 29, toàn thể Bộ Chỉ Huy đều họp túc trực trong phòng hành quân. Tình hình chiến sự lúc ấy bị đám truyền thông thiên tả loan tin rất bất lợi cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta thua trận cũng một phần vì đám truyền thông thiên tả này.

Đêm 29/04/1975 là một đêm lịch sử của Tiểu Đoàn Tiếp Vận SĐ 18.

Đêm ấy là phiên trực căn cứ do Tiểu Đoàn 18 Tiếp Vân phụ trách. Vào khoảng 11 giờ thì đoàn xe của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn rời khỏi căn cứ. Tôi có cố tình liên lạc với Bộ Tư Lệnh nhưng không được, tôi nghĩ là họ im lặng vô tuyến để bảo mật và sẽ rút về Trường Trung Học Kiểm Mẫu Thủ Đức. Tôi vọng sau khi ổn định, Sư Đoàn sẽ có chỉ thị cho chúng tôi sau.

Khoảng 12 giờ đêm thì Tiểu Đoàn 18 Quân y kéo đi. Sĩ Quan trực toán gác cổng cho biết, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Quân Y là Bác  sĩ Đàm yêu cầu mở cổng cho đoàn xe của ông  đi, tôi bảo phải đợi tôi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn trước đã. Như đã nói trên, vì tôi không liên lạc được với Bộ Tư Lệnh, do đó tôi quyết định không cho đi. Thiếu tá Đàm vào tại phòng trực gây gổ với tôi rất dữ dội. Ông nói ông quyết định phải đi, sau này có bị tù ông cũng chấp nhận. Phần tôi thì tôi cương quyết không cho bất cứ ai ra khỏi căn cứ khi chưa có lệnh.

Việc này là một kỷ niệm khá lý thú về sau này, khi tôi gặp lại nhiều Sĩ Quan trong Tiểu đoàn Quân Y, họ đã kể lại cho tôi biết là ông Đàm về đến Sài Gòn chửi tôi thậm tệ. Ở Úc, tất cả các Sĩ Quan Tiểu Đoàn 18 Quân Y đều biết chuyện này.

Sau đó, Tiểu Đoàn Công Binh với Thiếu Tá Nên Tiểu Đoàn Phó cũng đến gặp tôi đòi đi nữa. Dỉ nhiên tôi không cho, nhưng tôi có bảo nếu không liên lạc được với Sư Đoàn thì tôi củng phải kéo đơn vị về Sài gòn. Chừng nào đi thì chúng ta sẽ đi chung. Sau đó tôi được biết là Liên Đoàn 5 Thiết giáp cũng muốn đi, cho nên Tiểu Đoàn tôi và Tiểu Đoàn Công Binh họp bàn với tất cả các Sĩ Quan trong đơn vị, cùng đi theo Liên Đoàn Thiêt Giáp về Sài gòn.

Khi chúng tôi về đến cầu Xa lộ  Sài gòn là 10 sáng, chúng tôi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Chúng tôi  thật vô cùng thất vọng, không biết làm sao chúng tôi đã họp các Sĩ Quan trong Tiểu Đoàn và quyết định:

Chẳng thà cho rã ngũ, chứ không bàn giao cho Cộng Sản.

Chúng tôi đã rã ngũ từ lúc đó.”

 Anh Quản kể dứt câu chuyện về 30 tháng Tư 1975 của mình, anh xoay qua bên cạnh, nắm tay người vợ thân yêu mà nói:

“Có tất cả anh em ở đây, lần đầu tiên tôi nó với bà . . . tôi xin lỗi bà là đã không cho bà và các con và cả tôi di tản vào ngày 28/04/1975. Những bà cũng biết đó, cấp chỉ huy của tôi là Thiếu Tướng Đảo còn đó, còn kêu gọi quân nhân mọi cấp của Sư Đoàn ráng cầm cự. Quân Khu Thủ Đô còn đó, Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4 còn đó, Sư Đoàn 18 của mình và Sư Đoàn 5 còn đó, tôi đâu có thể nào vì tham sống mà bỏ anh em đi được!”

Hai anh chị nắm tay nhau thông cảm, nước mắt tuôn rơi trên gò má . . .

Nghe câu chuyện của Trung Tá Quản, nghe lời xin lỗi chân tình của anh với người vợ thân yêu, chúng tôi không cầm được nước mắt, thương cho tình nghĩa vợ chồng, thương cho số phận của cả một dân tộc.

Thương cho Người Vợ Lính với 6 đứa con thơ, đã nghe lời chồng mà ở lại quê nhà, để rồi nai lưng ra đi làm đủ mọi việc buôn gánh bán bưng, nuôi chồng đi tù Cộng sản suốt 10 năm dài đằng đẵng. Không phải một mình chị, mà còn bao nhiêu Người Vợ Lính Cộng Hòa khác ở trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật, đã chịu cực chịu khổ, chịu đủ mọi cay đắng do đám Cộng sản giáng xuống đầu họ để trả thù, mà vẫn đứng vững nuôi chồng nuôi con.

Xin cám ơn những Người Vợ của Lính Cộng Hòa.

Thương cho người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như Trung Tá Quản, đã hy sinh hết đời mình để bảo vệ quê hương, đến giờ phút cuối cùng, vẫn hăng hái chiến đấu, không bỏ ngũ, không đầu hàng.

Hãy cố gắng lên, các chiến hữu! Chúng ta đã vẫn không bỏ ngũ, không đầu hàng, chỉ tạm thời rời chiến trường mà thôi.

Một ngày nào đó, chúng ta, những người Quân Nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sẽ quay trở về, dẹp tan bè lũ Cộng sản, dựng lại quê hương Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta.

Ngày đó sẽ không xa đâu!

Nếu tất cả các Sĩ Quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta đều là những Sĩ Quan có nghĩa khí, có tinh thần trách nhiệm cao, đồng lòng ráng cầm giữ thêm chừng 10 ngày nữa thôi, để tái phối trí lực lượng, biết đâu vận nước của chúng ta sẽ thay đổi, và Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta sẽ vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Cũng trong buổi họp mặt thân mật đó, chị Nguyễn Thị Hoa, giáo viên ở Biên Hòa, và cũng là một người vợ Lính Cộng Hòa, đã kể lại câu chuyện của chị như sau:

“Cả tuần lễ trước ngày 30 tháng Tư, cả trường học của chúng tôi không có dậy dỗ gì được nữa. Dân và Lính từ Miền Trung đổ về ở đầy khắp mọi nơi, trường học  phải đóng cửa để cho họ có chỗ tạm thời tá túc. Lúc đó Long Khánh cũng đã  mất rồi, cậu tôi là Lính cùng với gia đình ở Long Khánh đã phải vượt đường rừng mấy ngày mới tới Long Thành, tôi đưa cậu vào bệnh viện Biên Hòa nhưng không còn chỗ nữa. Rồi Long Thành cũng mất, Việt cộng đang tiến về Biên Hòa. Lúc đó tôi còn độc thân, cùng với má và mấy đứa em dắt díu nhau chạy về Sài Gòn. Qua Chợ Đồn, tới Cầu Gành thì hai má con lạc nhau, cứ đành cứ thế mà tiếp tục đi.

May mắn khi tới Cầu Xa Lộ thì gặp lại má, nhưng lính hai bên bắn nhau dữ lắm, không thể đi được nữa. Mấy ngày hôm nay chạy loạn không có cơm ăn nước uống, may nhờ có mấy anh Lính mình đi ngay, cho chúng tôi gạo sấy và cá khô, chúng tôi cả đám dân chụm lửa nấu ăn thật là ngon. Ăn xong, vừa định tiếp tục đi thì nghe trên đài phát thanh ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Mấy người Lính nghe xong họ buồn dữ lắm, ai cũng khóc, nhưng không ai chịu buông súng mà nhất định đòi đánh Việt cộng tới cùng. Lúc đó cũng có  tin buồn là một ông Tướng Tư Lệnh Vùng của chúng ta đã tự sát, làm cho anh em nản chí, nhưng sau đó lại có tin mừng Tướng Nguyễn Khoa Nam ở Vùng 4 vẫn tử thủ và đang tiếp tục chiến đấu. Những người lính nghe tin này thì họ vui lắm, một số cùng nhau tìm đường về Cần Thơ. Một số khác lại muốn kéo về Long Khánh, vì nghe nói ở đó có rất nhiều  Lính Nhẩy Dù chiếm khu này tử thủ.

Tôi và má thấy Tổng thống của mình đã đầu hàng rồi, nước đã mất rồi, đi đâu cũng vậy thôi, nên cả gia đình buồn bã kéo nhau về Biên Hòa.

Trên đường về, tôi thấy người chết người bị thương nhiều lắm. Những người Lính Cộng Hòa, có người vẫn còn bận quân phục, vẫn còn cầm súng, có người mặc quần áo thường dân, có người chỉ bận một cái quần sà lỏn. Đi tới Suối Lồ là chúng tôi đã mệt lả rồi, thấy một chỗ rất đông người tụ tập, có vẻ là một quán bán nước, tôi nói má và mấy em chờ ở dưới gốc cây, để tôi tới đó, nếu đúng là quán  cơm hoặc nước uống, và nếu không có gì nguy hiểm, tôi sẽ trở lại đưa cả nhà vào ăn.

Tới nơi, đó là một quán bán đồ ăn, tôi vào mua một ly cà phê cho tôi  tôi thấy rất nhiều Lính Cộng Hòa, tất cả đều còn mang súng, có vẻ như từ xa đổ về, vừa mới nghe tin Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Một người Lính đã tức tối la lớn lên rằng:

“Không buông súng đầu hàng! Nhục lắm!”

Ngay trước mặt tôi, một nhóm Lính cầm súng đưa lên cao, cùng la lớn lên:

“THÀ CHẾT CHỨ KHÔNG ĐẦU HÀNG”

Tôi thấy rõ ràng, họ đưa súng lên ngay mặt mà bóp cò.

Nhiều tiếng nổ vang lên, thân người của họ từ từ ngã gục xuống.

Tôi hoảng hốt, tay cầm ly cà phê mà rớt lúc nào không hay.

Kể tới đây, chị đã khóc sướt mướt như thể đang đứng trước mặt những người Lính đã tự sát, làm chúng tôi cũng không cầm được nước mắt.

Khi đã bớt xúc động, chị kể tiếp:

Những người Lính còn lại nhào tới ôm những người Lính đã tự sát lên, vừa kêu tên của những người Lính này vừa khóc rất thảm thương. Sau đó, họ khiêng những xác đồng đội của họ, cùng nhau tiến ra phía ngoài đường lớn, vừa đi vừa cùng nhau la lên:

“Tiếp tục chiến đấu. Anh em, ra đường lớn chận đám Việt Cộng lại, lấy M72 giết   hết chúng nó đi rồi cùng chết.”

Tôi thẫn thờ nhìn những người Lính Cộng Hòa đang dìu nhau ra đường lớn, tôi muốn chạy theo họ, muốn la lên để họ chờ tôi cùng đi, tôi muốn họ chia cho tôi một khẩu súng để tôi cùng chiến đấu với họ. Mặc dù tôi là con gái, nhưng tôi cũng là con dân của Việt Nam Cộng Hòa. Đất nước lâm nguy, thất phu hữu trách, tôi cũng có phần trách nhiệm vậy!

Tôi dợm chạy theo những người Lính thì có tiếng má tôi kêu. Tôi còn một nhiệm vụ nữa không kém phần quan trọng: Đưa các em tôi và má tôi về Biên Hòa, không thể bỏ họ ở một nơi đầy nguy hiểm được.

Vì đã không thể cùng chiến đấu cùng với những anh em Lính Chiến Cộng Hòa vào những giây phút cuối cùng của đất nước, tôi cảm thấy đã thiếu bổn phận của một người dân, cho nên, khi vượt biên qua được nước Úc, sống một cuộc sống Tự Do, Hạnh Phúc, tôi luôn luôn nhớ tới nhiệm vụ của mình, từ năm 1983 tới nay, năm nào vợ chồng tôi và con cái cũng theo đoàn người đi tới tận Canberra, nhập vào đoàn người biểu tình trước Tòa Đại Sứ Việt Cộng mà hô to những khẩu hiệu:

“Đả Đảo Cộng Sản dã man, đã tàn sát dân Việt, đã bán đất cho Tầu Cộng.”

Tâm tình của người dân của Miền Nam Cộng Hòa là như vậy đó.

Vào tháng 6 năm 2016, khi qua San Jose, tôi đã có dịp gặp lại nhưng người bạn cũ ở Tiểu Đoàn 90 Biệt Động Quân, nhất là đã cùng nhau tìm được vị chỉ huy cũ, là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Phan Bát Giác. Anh em lâu ngày mới gặp nhau, tay bắt mặt mừng, những giọt nước mắt thương nhau lăn tròn trên những gò má nhăn nheo.

Anh Giác đã kể lại cho chúng tôi nghe những gì xẩy ra vào ngày cuối cùng của cuộc chiến, như sau:

“Đầu năm 1975, tôi nhận được sự vụ lịnh đi học khóa Bộ Binh Cao Cấp ở Long Thành. Lúc gần xong khóa học thì tình hình chiến sự quá sôi động, rất cần sĩ quan cho chiến trường, nên khóa học của tôi được rút ngắn một tháng. Ngày 14/03/1975, tôi nhận được sự vụ lịnh về trình diện Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân Khu II gấp.”

Tới Pleiku, tôi quá giang xe của Bộ Binh để vào hậu cứ Tiểu đoàn ở Hàm Rồng. Gặp Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Tất, ổng cho biết là Tiểu đoàn 90 vẫn còn ở Thanh An, nhưng đường xá rất nguy hiểm, không thể về đó trong lúc này.

Sáng hôm sau, ông ra lệnh cho tôi sửa soạn đi theo đoàn quân di tản về Phú Bổn, đem theo bất cứ cái gì có thể đem. Tôi xuống kho, còn mớ gạo xấy lấy hết bỏ lên xe GMC, tìm được một chiếc Jeep nữa, thế là cùng mọi người theo Liên Tỉnh Lộ 7 lên đường.

Đi được thêm vài ngày nữa, dân và lính đều hết đồ ăn, họ thấy trên xe của tôi có ít  gạo, nên chạy tới xin cứu đói, tôi thấy họ đói khổ mệt mỏi quá rồi, nên có bao nhiêu gạo là cho hết, tới lúc chính mình cảm thấy đói thì mới biết là không còn bao gạo xấy nào cả, đành bấm bụng đi xin ăn của anh em chung quanh.

Lúc này, bọn Việt cộng đã bắt kịp đoàn quân di tản, chúng bắt đầu tấn công để xé đoàn người ra thành nhiều đoạn mà đánh, hai bên bắn nhau rất ác liệt, bên nào cũng có thiệt hại, nhất là dân chúng. Tới khoảng ngày 20/03/75, đoàn xe tới được Dục Mỹ, mới tạm gọi là an toàn. Nghỉ một đêm, qua hôm sau, ban quân lương của Quân trường đồng ý ứng tiền phát lương cho những ai chưa lãnh lương tháng 3, tôi lãnh lương, có ít tiền mới ra chợ mua thêm thức ăn khô đem theo. Tới đây tôi mới được tin xấu là Tiểu đoàn 90 đã bị tan hàng ở Thanh An rồi, tôi trở thành Tiểu Đoàn Trưởng không có quân, chẳng biết đi về đâu!

Đoàn xe đi tới Sông Ba, sông này mặc dù đã cạn đi phần nào, nhưng vẫn còn sâu lắm, chờ công binh bắc cầu tạm xong bắt đầu di chuyển, nhưng cầu tạm này cũng không đủ sức, bị lật ngang, phải đợi sửa chữa. Tôi nhờ dân chúng có máy cầy đi được trên cát kéo chiếc xe Jeep qua sông di chuyển tiếp. Qua ngày hôm sau, xe đang chạy thì tôi thấy có một cô gái dẫn theo hai đứa nhỏ đang chạy trên đường thì bị pháo kích, cả ba cùng bị thương, tôi vội vàng cho dừng xe lại, anh em xúm lại băng bó cho họ. Cô gái cho biết, cô là cô giáo của trường làng, khi dân chúng chạy tản loạn, hai đứa này bị lạc cha mẹ khóc quá chừng, cô thấy tội nên dẫn chúng theo, ai dè bị pháo ở đây, không biết đi đâu bây giờ. Tôi thấy cả ba cùng bị thương nặng, nên cho họ theo đi về Tuy Hòa.

Quân với dân cứ thế mà đi mãi, tới Nha Trang, đưa mọi người vào bệnh viện xong, tôi gặp Liên Đoàn 9 Biệt Động Quân đang sửa soạn đáp tầu về Sài Gòn, liền xin quá giang, mãi tới tối ngày 31/3 mới về tới Sài Gòn.

Sáng hôm sau, tôi lên trình diện ngay với Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân ở Trại Đào Bá Phước, đúng lúc Binh Chủng Biệt Động Quân vửa được lệnh thành lập 2 Sư đoàn, rất cần các sĩ quan có kinh nghiệm tác chiến, gồm có:

Sư Đoàn 106, do Đại Tá Nguyễn Văn Lộc làm Tư Lênh,

Sư Đoàn 101, do Đại Tá Nguyễn Thành Chuẩn làm Tư Lệnh.

Thế là tôi được sự vụ lệnh trình diện Đạ Tá Nguyễn Văn Lộc, Tư Lệnh Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân, Bộ chỉ huy đang đóng ở Trường Đua Phú Thọ, tôi được chỉ định làm Ban 1, lo việc tuyển quân.

Tới khoảng ngày 20/04/75, tôi được lệnh kéo khoảng 20 khẩu đại bác 105 ra bắn yểm trợ cho mặt trận Long Khánh.

Sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi đang cho bắn yểm trợ thì nghe đài phát thanh Sài Gòn truyền thông điệp của Tổng Thống Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng.

Tôi cho ngưng bắn, gọi về Bộ Chỉ Huy Sư đoàn, không có ai trả lời cả. Gọi mãi cũng không liên lạc được vói ai, tôi tập họp tất cả anh em binh sĩ, cho phá hủy súng rồi tuyên bố tan hàng, chứ không bàn giao gì cả.

Tôi về tá tục tại nhà một người chú, vợ con vẫn còn kẹt ở đâu đó chưa biết tin, tới khoảng ngày 6 tháng 5 thì trình diện tập trung ở Đại Học Kỹ Thuật Phú Thọ rồi bị đưa đi tù cải tạo. Lúc đầu ở Thành Ông Năm, sau đó họ chở ra Bắc, đi khắp nơi, từ  Nghệ An, Yên Bái, Thác Bà, tới Hoàng Liên Sơn, mãi tới năm 1983 mới được trả về.

Kính thưa quý chiến hữu, quý đồng hương,

Những điều tôi vừa trình bầy ở trên, chỉ lả một trong những hình ảnh bi hùng của Người Lính Chiến Việt Nam Cộng Hòa, những người Lính can trường hy sinh tới giọt máu cuối cùng để bảo vể chính nghĩa, bảo vệ mảnh đất Miền Nam Cộng Hòa.

Đó là hình ảnh của những người Lính oai hùng đã không bỏ ngũ, không xa lìa anh em đồng đội, những người Lính đã thà chết chứ không chấp nhận đầu hàng.

 Đó là những hình ảnh của những người dân Miền Nam Việt Nam, sống trong chế độ Cộng Hòa, Lính đi tới đâu, dân đi theo tới đó, Lính không bỏ dân, dân không bỏ Lính.

Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có những hình ảnh đó. Có những người, vì nghe theo lời tuyên truyền của Việt Cộng, hoặc là vì mê muội, cho đến nay, khi nói chuyện với nhau về ngày 30 tháng Tư năm 1975,  họ vẫn nói:

” . . . Sau ngày Giải Phóng . . .”  

Ngày 30 tháng Tư có phải là ngày giải phóng của đất nước chúng ta hay không?

Chắc chắn là không rồi! Cái cột đèn vô tri vô giác còn biết điều này, huống chi là chúng ta, những con dân của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 30 tháng Tư là Ngày Mất Nước, là Ngày Quốc Hận!

Hãy gọi như thế, các bạn nhé.

Đừng làm tủi hổ vong linh của những người đã chết để bảo vệ cho quê hương cho quý vị và chúng tôi được sống đến ngày hôm nay.

Hàng năm, cứ vào ngày này, toàn thể cộng đồng Người Việt Tự Do trên khắp thế giới đã làm lễ truy điệu cho các chiến sĩ trận vong, cho những công nhân viên và những người dân lành vô tội đã hy sinh thân mình để bảo vệ cho tổ quốc Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó, chúng ta hãy ráng đoàn kết, tiếp tục tranh đấu chống Cộng trên mọi hình thức, để có một ngày nào đó, khi đám Việt Cộng đã bị tan hàng, bị đào thải, chúng ta sẽ trở về xây dựng lại một đất nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ, Hùng Mạnh và vĩnh viễn.

Mong lắm thay.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

 

Posted: 07/05/2018 #views: 59
 Để lại lời bình:
Tác gỉa:
Email:
Lời bình:
 
Đăng lên
 

Lời bình:


Webmaster: copywright @ 2015 viettorg.com

26  Online:     Netherlands: 21  -  United States: 5  -  
 Vài nét vềCộng Đồng & Hộì ĐòanHướng DẫnĐiều Lệ
 Vietorg.comTrương mụcXử dụng trang mạng
 Đăng Nhập
 Đăng Xuất