11500, 46, 224
Trương Mục mới
Login
Trang nhà
 
Tin tức
 
Bài viết
 
Phim ảnh
 
Thư viện
 
Lich Trình
 
Thương mại/Dịch vụ
 
Đời sống
 
Diễn đàn
 
Kết nối
 
Liên lạc
 
Thư viện - Danh mục:  > Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh
Đăng bài mới
Sủa bài này
Email bài này cho tôi
English
 Tài Liệu Lịch Sử & Chiến TranhTrở lại phần chính
     Chủ Nghĩa
     Chính Phủ
     Sức Khỏe & Y tế
     Giáo dục - Văn Hóa & Xã Hội
     Tủ Sách
     Phong Cảnh, Địa lý
     Những chế độ Cộng sản, độc tài bị sụp đổ
     Khoa Học & Kỹ Thuật
     Nghệ Thuật & Trang Trí
     Kiến Trúc
     Xã Hội & Đời Sống
     Sắc Đẹp
     Ký ức & Hồi ký
     Ngôn Ngữ
     Âm Nhạc & Giải Trí
     Thể Thao
     Tôn Giáo
     Tình Yêu & Tình Bạn­
     Gia Đình­
     Child Care­
     Mẹo Vặt
     Phong Tục Tập Quán
     Chuyện lạ
     Sưu tầm
     Thực Phẩm
     Môi trường
     Vệ sinh

Bài mớ nhất:
1 - TÂY TẠNG: 20 NĂM BI HÙNG CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VỚI SỰ GIÚP ĐỠ CỦA CIA (P2)
2 - TÂY TẠNG: 20 NĂM BI HÙNG CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC VỚI SỰ GIÚP ĐỠ CỦA CIA (P1)
3 - VÌ SAO GẦN MỘT NỬA NGƯỜI VIỆT CÙNG MANG HỌ NGUYỄN ?
4 - HỌ NGUYỄN VÀ HÔN NHÂN CHÁNH TRỊ
5 - SÀI GÒN: MIỀN ĐẤT HỨA
6 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: NANH VUỐT TRUNG CỘNG
7 - “TIẾNG GỌI CÔNG DÂN”
8 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA: TRUNG CỘNG BẪY NỢ
9 - ĐẠI NẠN TRUNG HOA THỜI CẬN ĐẠI
10 - CHIẾN TRANH 1954-1975 TRONG CHIẾN TRANH LẠNH TRÊN THẾ GIỚI
11 - NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975, BẠN ĐANG Ở ĐÂU? LÀM GÌ ?
12 - DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN - KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN
13 - BÀI XÍCH THUYẾT VIỆT NHO VÀ HUYỀN SỬ CON RỒNG CHÁU TIÊN ĐỂ LÀM GÌ?
14 - LẬT LẠI VỤ ÁN XỬ TỬ MẤY NGÀN SĨ QUAN VIỆT MINH
15 - DŨNG TƯỚNG ĐẠI VIỆT ĐÁNH BẠI QUÂN NGUYÊN MÔNG 2 LẦN TRÊN ĐẤT TRIỀU TIÊN, ÔNG LÀ AI ?
16 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 3 – HẾT)
17 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 2)
18 - SÀGÒN NGÀY DÀI NHẤT (PHẦN 1)
19 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 8)
20 - 100 NĂM TRƯỚC, ĐIỀU KỲ DIỆU XẢY RA TRONG ĐÊM GIÁNG SINH NHƯNG BÁO CHÍ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐƯA TIN
21 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 7)
22 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 6)
23 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 5
24 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP (KỲ 4)
25 - HU ZHIMING, TÊN MA ĐẦU ĐẠI BỊP - KỲ 3

Xếp Theo Loại:
Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh(260)


Xếp theo thời gian:
10/2018 (2)
09/2018 (3)
07/2018 (3)
06/2018 (1)
05/2018 (2)
04/2018 (1)
03/2018 (3)
01/2018 (4)
2017 (41)
2016 (118)
2015 (26)
2014 (32)
2013 (9)
2011 (11)
2010 (2)
2009 (2)
 
NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

 

NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Bách Việt

(http://dongten.net):  Bàn về nguồn gốc dân tộc Việt Nam là một chủ đề không mới, đã có nhiều nghiên cứu công phu về đề tài này. Tuy nhiên, chúng tôi trong tinh thần muốn đóng góp một cái nhìn,  xin gửi đến độc giả một số trích đoạn trong sách “nguồn gốc dân tộc Việt Nam” của học giả Đào Duy Anh, xuất bản năm 1950 về chủ đề này để những ai lưu tâm có thể có thêm cứ liệu suy xét. Có lẽ nguồn gốc truyền kỳ của dân tộc ta thì ai cũng biêt, và thông tin về thời đại nước Âu lạc của Thục An Dương Vương thì thiết tưởng chúng tôi không bàn thêm. Chúng tôi chỉ xin trích dẫn ở đây những cứ liệu về bước chuyển, xuất phát từ một lưu tâm: dân tộc Việt Nam vốn là một chi nhánh trong nhóm Bách Việt, tự khẳng định mình để không bị đồng Hóa bởi Hán tộc trong tiến trình hình thành quốc gia dân tộc.

Đề cập đến Bách Việt, chúng ta biết rằng khoảng thế kỷ 20 tcn, khi người Hán đang phát triển nền văn minh của họ ở lưu vực sông Hoàng Hà và Vị Thủy ở phía Bắc thì ở miền nam trên lưu vực sông Dương Tử (Trường Giang), sông Hán và sông Hoài, có những bộ tộc khác đã sinh sống, và thư tịch cổ Trung Quốc gọi họ là Man Di. Dựa vào vùng đất trù phú của miền sông nước, họ đã phát triển kinh tế nông nghiệp, đánh bắt thủy sản để sinh sống. Nhóm Man Di này được nhìn nhận đều thuộc Việt tộc. Đến trước đờiChu(bắt đầu từ thế kỷ XII tcn), họ đã ở khắp lưu vực sông Dương Tử. Quá trình hình thành và thống nhất của Trung Quốc cũng đồng nghĩa với quá trình hoặc đồng hóa các dân tộc nhỏ bé hoặc đẩy họ Nam tiến. Bách Việt là một ví dụ điển hình: một số chi họ trong Bách Việt đã dần nam tiến trong tiến trình Trung Quốc tiến hành thống nhất từ thời Chu đến Tần, và song song đó là quá trình họ bị đồng hóa, nhận lấy những yếu tố Hán tộc làm gia sản của mình. Tất nhiên, không điều gì lại không có ngoại lệ.

 

BÁCH VIỆT

Từ trước thời kỳ nước Việt đương cường thịnh ở Chiết Giang, người Việt Tộc ở miền lưu vực sông Dương Tử, riêng là người Giao Chỉ và Việt Thường đã có thể đi qua các đèo ở dãi Nam Lãnh mà di cư rãi rác đến miền nam, trong các thung lũng những sông lớn ở các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc  Kiến ngày nay. Chúng ta lại biết rằng hơn trăm năm sau Câu Tiễn (năm thứ 46 đời Chu Hiến Vương, tức năm 333 tcn) nước Việt bị nước Sở diệt, từ đó người Việt lìa tan xuống Giang Nam, rải rác ở miền bờ biển lục địa. Ở đấy, họ gặp những người đồng tộc đã di cư đến từ trước. Song người nước Việt có lẽ đã đạt đến một trình độ văn hóa cao hơn, cho nên sau khi họ  hỗn cư với những người thị tộc chiếm ở miềnNam trước họ, thì họ đã đem đến đó một hình thức chính trị, và có lẽ một hình thức kinh tế cao hơn. Những nhà quý tộc người Việt mới hợp tàn chúng của họ với các nhóm Việt tộc cũ, hoặc lập thành những bộ lạc lớn mà tự xung là quận trưởng (tù trưởng), hoặc lập thành những quốc gia phôi thai mà tự xưng vương. Những bộ lạc hay quốc gia  do các nhà qúy tộc người Việt lập ở miền LãnhNam, người Hán tộc gọi chung là Bách Việt. Đại khái buổi đầu, những nhóm quan trọng ở miền Chiết Giang Phúc Kiến đều thần phục nước Sở, mà những nhóm ở xa hơn trong miền Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Kỳ (miền Bắc Việt Nam ngày nay) thì không bị Sở ky mi.

Cái vận mệnh lịch sử của các bộ lạc và quốc gia Việt tộc ấy là thế nào? Chúng ta không thể nào biết hết được. Có lẽ các bộ lạc nhỏ dần dần bị các bộ lạc lớn thôn tính, cho nên số các bộ lạc linh tinh một ngày một giảm ít đi, mà sử sách chỉ chép có năm nhóm quan trọng, sau này đã đạt đến hình thức quốc gia: Đông Việt hay Đông Âu, MânViệt,NamViệt, Tây Việt hay Tây Âu và Lạc Việt.

Ở chương này, chúng tôi chỉ xin nói về ba nhóm Đông Việt, Mân Việt vàNamViệt là các nhóm sau này lần lượt bị đồng hóa theo Hán Tộc, còn nhóm Tây Âu và nhất là nhóm Lạc Việt, hai nhóm ấy sau này hợp thành ước Âu Lạc đã ghi dấu trên lịch sử lâu bền hơn, chúng tôi sẽ nói sau.

Đông Việt và Mân Việt, hai nhóm ấy có tự bao giờ, chúng ta chưa biết đích xác được. Chúng ta chỉ có thể đặt sự thành lập chính thức của nó vào thời gian sau khi nước Việt bị diệt ( năm 333 tcn) và trước khi nhà Tần chinh phục Bắc Việt (năm 218 tcn).

Sau cuộc nhà Tần thống nhất Trung Hoa thì cương vực của địa bàn người Hán Tộc có thể lấy dãi Lãnh Nam làm giới tuyến phíaNam. Sau khi Tần đặt 36 quận ở đất Trung nguyên thì vào khoảng năm 218, Thủy Hoàng phát quân gồm những hạng người lưu vong rể thừa và lái buôn, chia làm năm đạo cho đi chinh phục Bách Việt. Trong 5 đạo ấy, đạo thứ năm tụ tập trên sông Dư Can, trong tỉnh Giang Tây ở phía nam hồ Phiên Dương là đạo quân nhằm đánh. Đông Việt và Mân Việt là hai nhóm người Việt đã có hình thức quốc gia phôi thai, vốn thần phục nước Sở, đã nhân cuộc nội loạn ở Trung Quốc mà độc lập.

Nhóm Đông Việt hay Đông Âu thì Trung tâm điểm là miền Vĩnh  Gia, thuộc Ôn Châu trong tỉnh Chiết Giang ngày nay. Về phíaNamTam môn loan. Nhóm Mân Việt thì trung tâm điểm là miền Mân huyện, thuộc Phúc Châu trong tỉnh Phúc Kiến ngày nay.

Có lẽ hai nước Đông Việt và Mân Việt thì tiếp cảnh với nhà Tần nên vốn đã sợ oai, nay thấy quân Tần kéo đến thì không dám chống cự kịch liệt nên quân Tần thắng lợi rất mau. Chỉ trong năm đầu, nhà Tần chinh phục được hai nước gồm lại mà đặt quận Mân Trung, hạ vua hai nước xuống làm quận trưởng (tù trưởng) để trông dân Việt.
Về sau, trong khi chư hầu phản nhà Tần, tù trưởng Đông Việt và Mân Việt đều theo chư hầu mà đánh Tần, rồi lại giúp Hán đánh Sở. Vì vậy đến năm thứ 5 đời Cao Đế (202) thì nhà Hán thưởng công, phong cho tù trưởng Mân Việt là Võ Chứ làm Mân Việt Vương, trị đất Mân Trung  cũ, đô ở Đông Dạ (Mân huyện ngày nay). Năm thứ 3 đời Huệ đế (192), nhà Hán lại chia đất Mân Trung cũ mà đặt thêm ước Đông Hải và cũng để thưởng công phong tù trưởng Đông Việt là Dao làm Đông Hải Vương, đô ở Đông Âu (miền Vinh Gia), tục gọi là Đông Âu Vương.

Các nhóm Bách Việt vốn hay đánh nhau, đó chẳng qua là tác dụng của xu hướng thống nhất của các dân tộc. Cái thói tương tranh ấy vốn có thể cổ lệ cái lòng hiếu dũng cho dân tộc nhưng cũng có thể làm lưu tệ mà thành cái mối tự thân phân liệt được. Chúng ta nhớ lại, đương khi nước Việt quật cường thì cái hoài vọng của họ là phát triển về phương Bắc để xưng hùng với trung nguyên. Sau khi nước Việt diệt vong, cố nhiên người Việt không thể lăm le nhòm ngó trung nguyên như trước nữa, nhưng cái hoài vọng ngấm ngầm của các tù trưởng lớn tuồng nhưng cũng cứ chờ có cơ thời thì lại tung hoành về Bắc. Trong khi chờ đợi thời cơ thì cơ hội khuếch trương thế lực ở đồng tộc, cho nên trong các nhóm Bách Việt, người ta thấy diễn ra hiện tượng tương khuynh. Sự tranh giành giữa hai nhóm Đông Việt và Mân Việt là cái lệ chúng rõ ràng của hiện tượng ấy, mà chính là cơ hội rất tốt cho nhà Hán kiêm tính Bách Việt.

Ở buổi ban sơ, Đông Việt và Mân Việt tuy thần phục nhà Hán, nhưng cái chí nhòm ngó miền Bắc nếu có cơ hội thì cũng không ngại múa men. Khi Ngô Vương là Tỵ phản nhà Hán, Đông Việt và Mân Việt cũng có phát binh tiếp ứng: khi HoàiNamVương Lệ làm phản, cũng có câu kết với hai nước ấy. Trong hai nước thì Mân Việt đáng cho nhà Hán sợ hơn cả. Sau khi nhà Hán đã dụ được Đông Việt giết Ngô Vương Tỵ  mà hàng phục Hán, con Tỵ là Tư Câu xui Mân Việt đánh Đông Việt năm thứ 3 đời Vũ đế (năm 138). Mân Việt bèn phát binh hãm Đông Âu. Đông Việt cầu cứu với nhà Hán, tướng Hán là Nghiêm Trợ phát binh tiếp cứu nhưng quân Hán chưa đến nơi thì quân Mân Việt đã rút lui về Nam, vì trong nước bấy giờ họ có nội loạn. Nghiêm Trợ đến Đông Âu muốn diệt nước Đông Việt để trừ hậu hoạn, bèn lấy danh nghĩa di dân để cứu nạn đói mà dời một phần dân chúng Đông Âu đến miền Giang Hoài. Có lẽ một phần dân Đông Việt đã chống cự lệnh di dân ấy mà theo vua họ chạy xuống  miền Namở gần Tuyền Sơn tỉnh Phúc Kiến sau đó 15 năm thì họ bị nhà Hán diệt hết. Thế là nước Đông Việt mất hẳn.

Sua khi Mân Việt thất bại ở Đông Âu, năm thứ 6 hiệu Kiến Nguyên (135), họ lại đem binh đánh nước Nam Việt ở miền Nam. Nước này cũng cầu cứu nhà Hán. Tướng Hán là Vương Khôi do đường Dự Chương và Hàn An Quốc, do đường Cối kê cùng tiến quân vào Mân Việt. Nhưng quân Hán chưa qua đèo mà Mân Việt lại vì nội loạn phải đầu hàng.

 

LẠC VIỆT

 

Trong các nhóm Bách Việt có nhóm Lạc Việt, là tổ tiên trực tiếp của dân tộc Việt Nam ở miền trung châu Bắc bộ và phía Bắc trung bộ vì không bị quân nhà Tần chinh phục nên giữ được độc lập lâu hơn các nhóm khác.

Người Lạc Việt đến miền Bắc Việt Nam từ bao giờ, điều ấy chúng ta chưa biết đích xác được, chỉ biết rằng trước khi Triệu Đà thần phục nước Âu Lạc thì đã có người Lạc Việt rồi. Theo Từ Quảng thì người Mân Việt họ Lạc, điều ấy khiến chúng ta ngờ rằng người Lạc Việt ở Việ Nam vốn có quan hệ với người Mân Việt ở Phúc Kiến, mối quan hệ ấy Cl. Madrolle, trong bài “Le Tonkin ancient B.E.F.E.0.XXXVII” đã nhận thấy chứng thực về nhân loại học. Có lẽ ở miền bờ biển Phúc Kiến từ xưa đã có nột nhóm Việt tộc chuyên làm nghề đánh cá và vượt biển. Họ thường dùng thuyền gỗ hay mảng tre có buồm để hàng năm theo gió mùa, nhân gió Bấc vượt biển đến các miền duyên hải ở phương Nam, đại khái miền Hải Nam, miền trung châu sông Nhị và sông Mã ở phía Bắc Việt Nam. Có lẽ những người táo bạo vượt biển đến cả Nam dương quẩn đảo nữa, rồi đến tiết gió Nồm, họ lại vượt trở về nơi căn cứ. Có lẽ sau nhiều cuộc vượt biển ấy, người Việt trong thị tộc Lạc ở Phúc Kiến đã để lại tại miền Bắc Việt Nam một ít nhóm thực dân rải rác, rồi dần dần những nhóm thực dân ấy một ngày một đông; đến sau khi nước Việt bị nước Sở diệt thì có lẽ họ kéo nhau cả bộ lạc xuống ở miền trung châu sông Nhị và sông Mã mà xưa nay họ vẫn biết là miền đất rộng rãi phì nhiêu. Và cũng có những người Lạc ở sót lại Phúc Kiến nên Từ Quảng mới nói rằng người Mân Việt là họ Lạc.

Trong những cuộc vượt biển hằng năm của nhóm người Việt tộc ấy, họ thường tự sánh họ với một giống chim hậu điểu mà hằng năm đến mùa lạnh, tức mùa gió bấc, họ thường thấy cùng dời miền bờ biển Giang Nam mà bay về miền Nam đồng thời với cuộc xuất dương của họ, rồi đến mùa nóng là mùa gió nồm, các chim ấy cũng trở lại miền Giang Nam đồng thời với cuộc trở về của họ. Vì thế mà dần dần trong tâm trí họ phát sinh ra quan niệm tô-tem, khiến họ  nhận gống chim Lạc ấy, (giống chim lạc là một giống chim hậu điểu về loài ngổng trời) là vật tổ, rồi cái tên vật tổ trở thành tên của thị tộc, cho nên người ta gọi nhóm Việt tộc ấy là Lạc Việt. Những khi họ vượt biển có lẽ họ thường giả trang mang lông chim lạc ở đầu và mình để trá hình thành vật tổ, họ lại trang sức thuyền của họ thành hình trạng vật tổ và đeo khắp nơi trong thuyền những huy hiệu vật tổ, tất cả những hành động ấy cốt để cầu cho vật tổ hộ vệ họ được an toàn giữa sóng gió biển khơi. Cái hình thuyền với những thủy thủ kỳ hình quái trạng chạm trên trống đồng Ngọc Lũ  mà các nhà khảo cổ học người Pháp Goloubew và Finot cho là có ý nghĩa tô tem, chính là biểu hiệu của các thuyền đã từng chở người Lạc Việt ở miền Phúc Kiến xuống miền Bắc Việt Nam. Đến đây, họ vẫn gữ tên thị lộc cũ là Lạc và chính bằng tên Lạc Việt mà từ rày các sử sách của Trung Hoa gọi họ.

Lân cận với nhóm Lạc Việt là nhóm Tây Việt hay Tây Âu ở miền Đông Nam tỉnh Quảng Tây, quân nhà Tần cũng không chinh phục được. Trong năm đạo quân nhà Tần phái đi đánh miền Bách Việt, thì đạo thứ nhất và đạo thứ nhì do phía Nam tỉnh Hồ Nam đánh vào Bắc tỉnh Quảng Tây. Nhưng đến đó quân đội thiếu đường vận chuyển lương nên không tiến được như chúng ta biết. Quan Giám Lộc trong đạo quân thứ nhất do Đồ Thư chỉ huy phải cho quân lính đào kênh để nối sông Tương với sông Ly. Nhờ sông đào ấy mà nay người ta gọi là kênh An Hưng, quân nhà Tần tiến sâu vào đất Việt được, giết được tù trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng “người Việt đều vào trong rừng sâu, ở cùng cầm thú, không chịu làm tôi mọi nhà Tần. Họ đặt người tuấn kiệt lên làm tướng và cứ ban đêm ra đánh quân Tần, giết được quan úy Đồ Thư và làm bị thương mấy chục vạn người. Nhà Tần bèn phát những người bị đày đến để phòng bị người Việt”. Cứ lời Lưu An nói thì chúng ta thấy quân nhà Tần thất bại to ở Tây Âu, có lẽ họ phải rút lui về miền Bắc để đóng ở phía Bắc sông Ly tức là miền mà nhà Tần đặt quận Quế Lâm,  tức Uất Lâm ngày nay. Trong khoảng mười năm nhà Tần đóng quân ở Bách Việt, người Tây Âu cũng như người Lạc Việt ở phía Nam vốn sống ngoài phạm vi của quân Tần.

Nhưng tại sao trong khi các nhóm Việt tộc khác phải chịu quân Tần dày xéo mà người Tây Âu và Lạc Việt lại giữ được độc lập? Như chúng ta đã biết, sau khi tù trưởng Tây Âu bị giết thì người Việt lui vào rừng rậm “chọn người tuấn kiệt lên làm tướng để kháng chiến”. Chúng tôi ngờ rằng người kiệt tuấn mà Lưu An nói đó chính là người mà sử cũ của ta gọi là Thục Phán An Dương Vương, con vua nước Thục. Sau khi nước Tần đã diệt nước Thục ở miền Tứ Xuyên (Sử ký chép việc ấy vào năm thứ năm đời Chu Thuận Vương, tức năm 316), dư đảng vua Thục chạy về phía Nam. Sau khi thái tử chết ở núi Bạch  Lộc thì dư đảng có lẽ trong đó có người con thứ của vua Thục, hẳn là theo sông Mãn Giang mà vào đất Điền Trĩ (tỉnh Vân Nam ngày nay) là đất nước Sở mới chiếm. Có lẽ con vua Thục lánh thân ở đất ấy thuộc phạm vi thế lực của Sở là nước cừu địch của Tần. Có lẽ dung thân ở một vùng nào trong đất Điền Trì tiếp cảnh với đất Tây Âu và Lạc Việt, con vua Thục đã tự xưng là Thục Vương để tự ủy, và có lẽ đến đời sau, con Thục ấy cảm thấy đất dung thân là nơi chật hẹp nghèo nàn, lại tiếp cảnh với miền đất nhà Tần mới chinh phục sau khi diệt được lục quốc mà thống nhất Trung Hoa thì không thể dễ dàng phát triển, bèn đem đồ đảng lấn đất Tây Âu và Lạc Việt ở miền Đông Nam. Thục Phán hẳn là đi theo lối con đường xe lửa Điền Việt ngày nay, qua Khúc Tịnh, Mộng Tự rồi theo sông Hồng hà mà đến đất Lạc Việt. Ở đó, Phán cướp được trung tâm điểm đất Lạc Việt là Mê Linh, hạ vua Lạc Việt xuống làm tù trưởng cho gữ miền Mê Linh làm thái ấp; có lẽ Thục Phán thần phục được luôn các bộ lạc Tây Âu ở miền nam Quảng Tây, giao cho tù trưởng họ là Dịch Hu Tống trông nom.  Sau khi đã hàng phục được cả hai nhóm Lạc Việt và Tây Âu, Thục Phán họp lại làm một nước, đặt tên là Âu Lạc. Có ý là do Tây Âu  và Lạc Việt họp thành, và đóng đô ở miền Cổ Loa ngày nay, tự xưng hiệu là An Dương Vương, có lẽ là muốn nhớ lại tên cố hương là Hoa Dương, tên miền đất Thục ở Tứ Xuyên.

Việc Thục Phán vào đất Việt có lẽ xảy ra trước khi quân Tần đánh Tây Âu (năm 245 tcn).

Truyền thuyết cho chúng ta biết rằng An Dương Vương xây thành theo hình trôn ốc, và dùng mỏ thần Kim Quy cho để giữ nước. Chúng ta có thể suy đoán rằng sau khi dựng nước, Thục Phán tất đã đem văn hóa của quê hương mình là nước Thục mà du nhập cho người Việt, đã đem chế độ qui mô của nước Thục cũ mà đoàn kết các bộ lạc người Việt thành một nước có tổ chức qui mô vững vàng. Phán đã dạy cho người Việt xây thành bằng đất và dùng cung nỏ bằng tre là hai thức kỹ thuật  người Thục vốn sở trường. Có lẽ trong khi quân Tần tiến đánh Tây Âu, Thục Phán đã phấn khởi lòng dũng cảm của người Việt và một mặt lợi dụng địa thế hiểm trở miền Nam Quảng Tây và miền thượng du Bắc Bộ để làm thuật du kích, một mặt thì nỏ tên bịt đồng mà núp trong rừng bắn ra, cho nên cầm cự với quân Tần được trong 10 năm và rốt cuộc quân Tần phải thua. Chúng ta có thể đoán rằng trong cuộc kháng chiến với quân Tần, An Dương Vương đã nhóm cho người Âu Lạc cái mầm mống của tinh thần dân tộc.

Đối với quân Tần ở xa đến, An Dương Vương có thể thống suất người Việt mà kháng chiến thành công được. Nhưng cách ít lâu, khi Triệu Đà đã lập nước Nam Việt mà xưng đế, Đà sẽ lấy cả thế lực của một nước rộng hơn vạn dặm ở sát biên cảnh để uy hiếp. An Dương Vương không thể địch nổi mà phải nhường. Chúng ta không biết giữa Triệu Đà với An Dương Vương có cuộc chiến tranh không? Cố nhiên chúng ta không thể tin cuộc xung đột chép trong truyền thuyết, mà Tư Mã Thiên thì chỉ chép vắn tắt rằng Triệu Đà đem binh uy hiếp biên thùy và dùng của cải mua chuộc khiến Âu Lạc quy phục. Song có một điều chúng ta biết rõ là sau khi Âu Lạc phục thuộc thì Triệu Đà vẫn không đem chế độ phưpng Bắc mà dùng ở đó, ý giả là Đà biết dân Âu Lạc vốn khó cai trị sai khiến hơn dân Vam Việt. Đà chỉ chia đất Âu Lạc làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, có lẽ quận Giao Chỉ của Triệu Đà gồm Bắc bộ và một phần đất phía Nam tỉnh Quảng Tây nữa; còn quận Cửu Chân là đất Thanh hóa và Nghệ An. Ở mỗi quận, Đà đặt một quan Diễn sứ để coi việc dân và một quan Tả tướng để coi việc binh, còn nhà quý tộc bản xứ thì vẫn được giữ thái ấp mà trị dân như cũ. Tại đất bản bộ của An Dương Vương là đất Tây Vu, trung tâm điểm là Loa Thành, có lẽ Triệu Đà vẫn để con cháu Thục Phán quản lãnh mà xưng Vương – Tây Vu Vương – được biệt đãi hơn các nhà quá tộc khác. Sự nội thuộc nhà Triệu của nước Âu Lạc bấy giờ kể ra cũng không chặt chịa lắm.

 

SỰ PHÔI THAI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Chúng ta đã biết rằng trong thời Tây hán, năm 119 chính sách của nhà Hán đối với dân Lạc Việt là chính sách thả lỏng. Nhưng sau khi Vương Vãng soán vị, sang đời Hán trung hưng thì chính sách nhà Hán đối với các châu quận, riêng về các châu quận mới mở ở xa có chiều thay đổi. Trước kia, quan thứ sử trông nom các châu cứ tháng tám bắt đầu tuần hành rồi đến đầu năm sau trở về kinh đô không ở nhất định tại châu trị. Đến đời Trung hưng thì đặt lệ kê lại các quan thứ sử không phải tự mình về kinh đô tâu việc nữa, từ đó họ phải ở luôn tại trị sở, dẫu có tang cha mẹ cũng không được bỏ chức. Sự thay đổi ấy chứng tỏ rằng nhà Hán muốn các quan thứ sử ở luôn trong châu quận để rõ mọi việc và để kiểm soát các quan thái thú, tức là muốn thắt chặt chính sách đối với các quận vậy.

Ở châu trị, xung quanh quan  thứ sử có các lại viên giúp việc gọi là tòng sự sử; ở quận trị dưới quan thái thú thì có một viên quận thừa để thay mặt thái thú khi mắc việc: xung quanh thái thú thì có các duyên sử chia ra các tào mà làm việc, ví như công tào sử thì trông nom việc lựa chọn người có công lao; mỗi tào lại có các thư tá làm việc giấy má, các quan lại bậc trên giúp việc thứ sử và thái thú có lẽ đều là người Trung Quốc nhưng ở những bậc duyên sử và thư tá thì dùng cả người Trung Quốc và người bản xứ biết chữ.

Tại các quận thì nhà Đông Hán buổi đầu vẫn giữ chức Đô úy, có đô úy thừa giúp việc, để cầm binh đồn trú. Binh lính ấy một phần là người Trung Quốc, một phần là dân bản xứ mới mộ.

Đồng thời với sự thắt chặt chính sách cai trị ở quận Giao Chỉ và Cửu Chân, chúng ta thấy nhà Đông Hán dùng những quan thái thú rất dụng tâm về việc du nhập văn hóa Trung Quốc cho dân bản xứ, nhất là Tích Quang – thái thú Giao Chỉ và Nhâm Diên – thái thú quận Cửu Chân ở đầu đời Hán Trung hưng. Trước kia, các quan thái thú vốn không đụng chạm gì đến việc nội bộ của người Lạc Việt, mà các quan đô úy thì chỉ lo giữ trật tự thôi. Tích Quang là vị thái thú đầu tiên có cái dã tâm đồng hóa dân bản xứ theo Trung Quốc. Người vốn đã bắt đầu làm công việc ấy ngay từ đời Vương Mãng. Có lẽ bấy giờ Tích Quang thấy cuộc loạn ở Trung Quốc, không theo Vương Mãng mà có ý muốn tổ chức bản quận thành một nước nhỏ để làm chủ giang sơn của mình chăng? Lại nhân có nhiều người tôi trung của nhà Hán không thần phục Mãng trốn sang Giao Chỉ, Tích Quang dung nạp hết và nhờ họ giúpsức trong việc khai hóa nhân dân. Sử chép rằng Tích Quang dạy cho dân Giao Chỉ cày cấy, biết đội mũ đi giày, đặt phép mối lái cho họ biết hôn thú, lại lập các học hiệu. lấy lễ nghĩa mà dạy dân (Hậu hán thư, quyển 116). Sang đời Trung Hưng, vua Quang Vũ dùng luôn Tích Quang là người trưởng lại có tư cách rất thích hợp với chính sách cai trị mới của nhà Đông Hán.

Sau Tích Quang, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân cũng hết sức khai hóa cho dân bản xứ. Sử chép rằng Nhâm Diên dạy cho dân cày cấy ruộng bằng trâu bò, dùng điền khí, và khai khẩn đất hoang, cùng là dạy cho dân biết lễ giá thú, khiến các trưởng lại phải giúp tiền cho những người nghèo để họ kết hôn được (Hậu Hán Thư, quyển 186).

Đối với sự khai hóa cải cách của các quan thái thú ấy, hàng quý tộc phong kiến bản xứ (các lạc tướng và bố chính) tất cũng hoan nghênh nhiều điều, ví như phép canh tác, sự học hành, nhưng hẳn cũng có nhiều điều khiến họ bất bình, ví như việc bắt bẻ tính tự do phóng túng của họ theo lễ giáo mới, bắt họ bỏ những phong tục cố hữu mà theo phong tục Trung Hoa.

Posted: 04/11/2014 #views: 953

 Để lại lời bình:
Tác gỉa:
Email:
Lời bình:
 
Đăng lên
 

Lời bình:


Webmaster: copywright @ 2015 viettorg.com

33  Online:     Netherlands: 26  -  United States: 7  -  
 Vài nét vềCộng Đồng & Hộì ĐòanHướng DẫnĐiều Lệ
 Vietorg.comTrương mụcXử dụng trang mạng
 Đăng Nhập
 Đăng Xuất