HỘI ĐOÀN NGƯỜI VIỆT TRONG VÙNG:
Ashburn, Virginia, United States
Danh sách hội đòan
Đăng ký
Đi vào
Tin tức
Sáng tác
Sinh họat đặc biệt
Bài vở đóng góp
Phim Ảnh
Thư viện
Thông báo
Diễn Đàn
Liên kết
vietorg,com
English   
Sign-up   Login

Nhấn chuột vào nút Hướng dẫn ở trên để đóng khung này

1) Làm thế nào để đọc những bài khác ?

Để đọc những bài khác, bạn nhấn chuột vào menu màu xanh ờ trên, chọn danh mục bên phải, rồi chọn bài để đọc

2) Làm thế nào để đăng ký website miễn phí cho cộng đồng, hội đòan ? Xin theo nhửng bước sau đây:

a) - Đăng ký một Trương mục hay tài khỏan (Chữ mới, account) Nhấn chuột vàu link ĐĂNG KÝ trên góc phải, khung đăng ký sẽ hiện lên.

b) - Đăng nhập bằng cách nhấn chuột vàu link ĐĂNG NHẬP trên góc phải

c) - Nhấn chuột vào nút ĐĂNG KÝ trên góc trái (nằm cạnh link Danh Sách Hội Đòan)

Xin lưu ý: Chỉ miễn phi cho tổ chức bât vụ lợi mà thôi. Nếu quí vị muốn có một website riêng cho hội đòan, công ty xin liên lạc với Ban Điều Hành vietorg.com

3) Làm thế nào để post bài đọc ?

a) - Để vào bài đọc hoặc những đề mục khác, trước tiên phải làm theo #2a, sau đó liên lạc với Ban Điều Hành (BĐH) vietorg.com hoặc Super Admin User (Người đăng ký trang web cho hội đòan bạn) , cung cấp Account-ID (tên người xử dụng)  để được vào trong danh sách Quản Trị Mạng (Administrators List) .

b) - Sau khi đã trở thành Administrator, bạn đăng nhập vào.

c) - Chọn Menu màu xanh ở trên, chọn danh mục bên phải và nhấn chuỗt vào nút ĐĂNG BÀI MỚi

d) - Khung vào bài sẽ hiện lên, điền hay dán vào: đề tài, nội dung, tóm tắt (khoảng vài hàng) và chọn một hình ành tượng trưng, xong bấm nút "LƯU.  Để đăng những bài víết đã có sẵn, xin COPY & PASTE.

4) Làm thế nào để thay đổi một bài đọc ?

a) Giống như #3 a ở trên

b) Giống như #3 b ở trên

c) Mở bài ra và nhấn chuột vào nút SỬA BÀI NÀY

- Khung vào bài sẽ hiện lên, thay đổi nội dung, tóm tắt và bấm nút LƯU

5) Email:  Bạn bấm nút "EMAIL BÀI NÀY" để nhận hoặc chuyển bài đến email mà bạn điền vào.  

6) GROUP Mail:  Nút này chỉ dành cho Administrator để gởi đến bằng Group Mail.

 

 
TỪ CẬU BA THÀNH ĐẾN CHÚ BA TÀU

 

TỪ CẬU BA THÀNH ĐẾN CHÚ BA TÀU

 

Cậu Ba Nguyễn Tất Thành

Ngày 4 tháng 6 năm 1911. khi xuống tàu Amiral Latouche-Tréville tại bến Nhà Rồng Saigon để làm nghề phụ bếp, cậu thanh niên 21 tuổi tên Nguyễn Tất Thành, lấy tên trên tàu là Nguyễn Văn Ba muốn sang Pháp để tìm kế sinh nhai chớ chẳng phải đi tìm đường cứu nước như bọn công Sản Đệ Tam quốc tế và Cộng sản VN bịa đặt dựng lên hình tượng để tôn thờ.

Lâm Văn Bé -  Không phải chỉ có Nguyễn Tất Thành mới đi tha phương cầu thực, mà trước đó, người cha của ông là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức tri huyện Bình Khê (Qui Nhơn) vì tội giết người khi say rượu cũng đã lưu lạc vào Namhành nghề bốc thuốc, được ông cử Hoành (cha của Lê Quang Uyển, thống đốc Ngân hàng thời VNCH) cưu mang cho đến khi mất năm 1929 ở vùng Cao Lãnh (mộ của Nguyễn Sinh Sắc sau nầy được CS trùng tu vĩ đại ở tỉnh Đồng Tháp).
Ngày 15 tháng 9 năm 1911, sau khi vừa đến nước Pháp, cậu Nguyễn Tất Thành đã gởi thơ cho Tổng Thống Pháp và Tổng Trưởng Bộ thuộc địa để xin vào học Trường Thuộc địa (École Coloniale) nhưng Pháp từ chối vì Thành chưa học hết bậc Tiểu học và muốn vào học trường nầy phải được Toàn quyền tuyển chọn tại Đông Dương. Ngoài bức thư xin nhập học với lời lẽ như : «Tôi muốn trở thành người có ích cho nước Pháp…», Nguyễn Tất Thành còn gởi sau đó một bức thư cho Khâm sứ  Pháp tại Huế nhờ chuyển 15 đồng bạc Đông Dương cho cha với « giọng điệu hạ mình đối với người Pháp» (Sophie Quinn-Judge, dịch giả Diên Vỹ & Hoài An, tr. 39) và nhờ người anh tên là Nguyễn Sinh Khâm đang làm việc vặt ở Tòa khâm sứ nhờ xin một  lần nữa với Khâm sứ.

Từ 1912 đến 1914, Nguyễn Văn Ba phiêu lưu trên những chuyến tàu viễn duyên với nghề phụ bếp và khuân vác trên tàu, khi thì dừng chân ở New York (1912) đi ở mướn, khi đến Boston làm bánh ngọt cho khách sạn Parker House.Từ 1914 đến 1919, trở lại tên Nguyễn Tất Thành, ông sống ở Luân Đôn, ban ngày làm phu hốt tuyết, ban đêm làm phụ bếp ở khách sạn Carlton. Khi trở lại Paris tháng 6 năm năm 1919, Nguyễn Tất Thành làm quen với các nhà tranh đấu nhân quyền là Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền trong nhóm Người Annam yêu nước (Association des Patriotes annamites). Thành được nhóm Yêu nước giao nhiệm vụ đến Versailles để trao Bản thình nguyện của dân tộc Annam  (Revendications du peuple annamite). Lợi dụng dịp nầy, Nguyễn tất Thành lấy tên của nhóm đổi tên của mình là Nguyễn Ái Quốc và từ đó cái tên nầy đã được sử dụng suốt 30 năm. Sau khi có Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành gia nhập, nhóm người Annam yêu nước đổi tên là nhóm Ngũ Long thì Phan Chu Trinh là người lãnh đạo tinh thần, Phan Văn Trường là người lãnh đạo đích thực, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh viết bài, Nguyễn Tất Thành cổ động bán báo, in truyền đơn.

LS, Nguyễn Văn Chức kể lại lời nói của ông Nguyễn Thế Truyền : Năm 1960, cụ Nguyễn Thế  Truyền ra tranh cử tổng thống tại miền Nam Việt Nam. Tôi có đi theo anh em báo chí đến nghe Cụ nói chuyện.

Khi đuợc hỏi  về những tài liệu viết bằng tiếng Pháp tại Paris ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhất là bản Mémorandum gửi Hội Nghị Hoà Bình Versailles 1919, cụ Truyền  nói : Nguyễn Tất Thành chưa học hết tiểu học Pháp. Lúc đó ở Paris, nhóm chúng tôi mướn anh ta đi phân phát những  tài liệu đấu tranh bằng tiếng Pháp do chúng tôi viết. Anh ta đã nhận xằng mình là Nguyễn Le Patriot và nhận xằng mình là tác giả những tài liệu đó.(HCM, CXXXII).

Năm 1948, lợi dụng khi  Nguyễn Thế Truyền bị đày ra Côn Đảo và các thành viên khác của nhóm đã chết, Nguyễn Ái Quốc đã gom tất cả các bài viết của nhóm để in thành «Hồ Chí Minh toàn tập» xem như tất cả bài viết của nhóm là bài viết của mình và 12 «toàn tập» nầy tái bản nhiều lần được xem như những tác phẩm vĩ đại mả sinh viên học sinh VN bao thế hệ phải đọc và học. Gian manh, lừa bịp, ăn cắp là bản chất của Hồ Chí Minh và đồng bọn..

Chính với cái bản chất gian dối nầy mà  Hồ chí Minh là nhân vật duy nhất trên thế giới có đến 5 năm sinh khác nhau và 180 tên và biệt hiệu. Trang mạng Báo Điện Tử Đại Biểu Nhân Dân, trong bài «Tên gọi HCM có tự bao giờ » đã tự hào viết : «HCM đã dùng trên 180 bút danh, bí danh và mật danh khác nhau. Bí danh HCM xuất hiện từ năm 1940 dần trở thành chính danh luôn đi liền với tên nước VNDCCH » Trong số các bí danh trên, HCM đã sử dụng tên Trần Dân Tiên để viết tự truyện đánh bóng mình (Những chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch) và dùng tên T. Lan (là Thái Lan, bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai) để viết Vừa đi vừa kể chuyện. Hai quyển sách nầy được xem như hai quyển thánh kinh, mà các nhà viết sử trong nước và ngoài nước thường dùng để viết về HCM.

Tiến sĩ  Sophie Quinn-Judge trong Ho Chi Minh ; the missing years 1919- 1949 đã nhận định là những tự truyện nầy gian trá, bịa đặt « tập hợp những khắc họa mờ ảo với những ngày tháng lộn xộn, thiếu hụt thông tin, xây dựng những huyền thoại về HCM chứ không phải là cuốn sách có giá trị lịch sử » (bản dịch, tr.20). Từ nhận định của học giả Sophie Quinn-Judge, chúng tôi nghĩ rằng người đọc các quyển tài liệu về HCM và đảng Cộng Sản VN viết bởi đa số các nhà nghiên cứu Tây Phương phải thật dè dặt vì những người nầy thường dựa vào tài liệu cấp hai cung cấp bởi tài liệu CS hay thiếu trung thực vì thiên Cộng hay ngây thơ trước những huyễn hoặc tài tình của CS. Chúng tôi cần nêu tên vài  tác giả thuộc loại nầy : Jean Lacouture, Bernard Fall, Pierre Brocheux, Daniel Hémery, William J.Duiker…

Từ khi gia nhập đảng Cộng Sản Pháp năm 1920 cho đến tháng 3 năm 1946 trở thành Chủ tịch  nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, cuộc đời Hồ Chí Minh chỉ là  những năm tháng học tập, cải tạo tư tưởng dưới sự chỉ đạo của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Liên Sô và Trung Quốc. Với sự nhuộm đỏ chủ nghĩa Mát-Lê, Hồ Chí Minh đã đem về VN áp dụng những bài học sắt máu bạo tàn đã được nhồi nhét qua 25 năm trong các trung tâm huấn luyện. Bởi lẽ Staline là thần tượng của HCM  mà Staline là người vô cùng tàn ác, đặc biệt rất thù ghét cha mẹ, do đó không lạ gì khi cầm quyền, HCM và đồng bọn đã tàn sát hơn 200 000 người trong cuôc cải cách ruộng đất (theo Nguyễn Văn Canh. Nông dân Bắc Việt những năm 1945-1970 ; tr.202), tàn phá hệ thống đạo lý gia đình, triệt tiêu trí thức và gây ra cuộc chiến Nam – Bắc giết hại hàng triệu người.

Giải thích vì sao cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Văn Ba khi xuống tàu sang Pháp để tìm kế sinh nhai rồi lại theo Cộng Sản và khi cầm quyền thích được xưng tụng là «Bác Hồ», bà Thụy Khuê đã viết : « Phần lớn những người tham gia chống Pháp, từ Nho học đến Tây học, đều học giỏi, nổi tiếng, nhưng đã gạt bỏ văn bằng sang một bên để dấn thân. HCM là một trường hợp đặc biệt, dù con quan nhưng sớm bỏ học, trình độ quốc ngữ kém, tiếng Pháp sơ sài, ông đã sống cực khổ, làm bồi bếp suốt quãng đời thanh niên từ 1911 đến 1919 trước khi tới Pháp. Tại Pháp cũng chỉ có 2 năm ở nhà Phan Văn Trường là khá, sau này khi ra Compoint, một khu nghèo thợ thuyền sống rất cơ cực, có mặc cảm sâu xa đối với bạn đồng hành, trí thức. Đó là lý do khiến Nguyễn Tất Thành theo CS, mặc dù ông chưa biết lý thuyết CS như thế nào. Sau nầy, khi lên cầm quyền, việc đầu tiên ông bắt mọi người phải kính nể gọi ông bằng bác. Đối với trí thức, ông dành cho họ mọi sự nhục nhằn mà ông đã gánh chịu trong suốt cuộc đời thanh niên » (Thụy Khuê. Nhân văn giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, tr.501).

Mặc dù được CS lừa bịp tôn vinh là cha già dân tộc, không vợ không con để làm cách mạng, nhưng thực tế Hồ Chí Minh là người vô đạo đức. Hồ Chí Minh  sống chung ít nhất với 7 người đàn bà, không kể những thiếu nữ hộ lý. Khi ở Paris, lúc Nguyễn Tất Thành làm nghề rửa ảnh, ông sống với một đảng viên đảng CS Pháp tên là Marie Brière (1921) ; lúc ở Quảng Châu với tên Lý Thụy, ông kết hôn với Tăng Tuyết Minh (1926) ; lúc ở Hongkong và Moscou (1930-33), ông sống với Nguyễn thị Minh Khai (sau đó, năm 1935, Minh Khai kết hôn chính thức với Lê Hồng Phong). Ngoài ra lúc ở Moscou, ông cũng có liên hệ tình cảm với Vera Vasilieva, cán bộ Nga đặc trách tổ chức Cộng Sản Quốc Tế. Cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành đổi tên là Hồ Chí Minh về nước lần đầu tiên (1941) đóng ở Pắc Pó (Cao Bằng), ông sống với 2 nữ cán bộ trẻ là Đỗ thị Lạc, có một đứa con gái, và Nùng thị Ngác (sau ông cho đổi tên là Nùng thị Trưng, cử làm chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Cao Bằng). Theo nhiều nguồn tin, Nông Đức Mạnh là con của HCM với bà Ngác. Năm 1955  khi về Hanội,  ông sống chung với Nông Thị Xuân có một con trai là Nguyễn Tất Trung, rồi âm mưu với Bộ Trưởng Công An Trần Quốc Hoàn giết Nông thị Xuân vì bà Xuân đòi có đám cưới.

Blogger Huỳnh Tâm  đã viềt về đời sống tình dục của ông như sau : «…Ông là người say mê mỹ nữ. Mỗi lần si tình một mỹ nữ, ông sáng tạo một bút hiệu và danh sách bút hiệu cứ thế tăng dần. Danh sách nầy là để giúp ông tưởng nhớ lại mỗi hương vị ân ái động đào ( Bên trong xác ướp HCM. Anle20’s blog). Thì ra, số tên và bút hiệu của ông lên đến con số 180 không phải chỉ liên quan đến hoạt động chính trị mà còn liên quan đến đời sống tình dục của ông.

Chính vì đời sống tình dục và những cuộc tình của ông có nhiều «vấn đề» khiến ông trở nên yếu hèn trước các đồng chí, nhất là với Lê Duẩn, làm ngơ cho các đồng chí lộng hành.

Theo Bill Hayton, phóng viên BBC ở VN, tác giả quyển  Viet Nam : Rising Dragon  thì : quyền lực thực sự nằm trong tay Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng Cộng sản, một người theo chủ nghĩa Staline thật tàn bạo  Lê Duẩn đã dùng lực lượng an ninh để kiểm soát hoạt động của các nhà lãnh đạo khác và thi hành chiến lược chiến tranh toàn diện chống lại Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam ViệtNam.Thắng lợi vào năm 1975 đã đưa ông Lê Duẩn nắm quyền nhưng với những hậu quả khủng khiếp. Trả thù và quản lý kinh tế yếu kém đã khiến đất nước bị cô lập và nghèo khó. Cái chết của ông vào năm 1986 đã mở đường cho một nước Việt Nam mở cửa. (BBC ngày 29/8/2013).

Chú Ba Tàu Hồ Tập Chương

Những tưởng «bác» được yên thân trong cái quan tài pha lê chờ ngày tan rữa, nào ngờ năm 2008, Hồ Tuấn Hùng, Giáo sư Đại học Đài Loan, trong quyển sách của ông tựa là Hồ Chí Minh sinh bình khảo đã công bố những tin tức «động trời ».Theo ông Hùng, Nguyễn Ái Quốc đã chết năm 1932 ở Liên Sô vì bịnh lao phổi và cái xác nằm trong lăng Ba Đình là của một người Trung Quốc tên Hồ Tập Chương. Ông giải thích là sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, bà Vera Vasilieva người phụ trách bộ phận Việt Nam Quốc tế Cộng Sản đã đặt kế hoạch 5 năm cho Hồ Tập Chương, một người Tàu đến từ Đài Loan học tập cải tạo để biến thành Nguyễn Ái Quốc thay thế Quốc tiếp tục công cuộc xây dựng đảng Cộng Sản Việt Nam và cầm quyền  cho đến khi chết. Trong 342 trang sách, Hồ Tuấn Hùng đã chứng minh bằng nhiều dữ kiện để phân biệt hai giai đoạn của cuộc đời Hồ Chí Minh :

1-     Hồ Chí Minh thời kỳ 1890-1932 là Nguyễn Ái Quốc người Việt Nam

2-     Hồ Chí Minh thời kỳ 1933-1969 là Hồ Tập Chương người Đài Loan.

Nói cách khác, Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh gồm 2 người nhân thân khác nhau : nửa đời trước là lãnh tụ cộng sản Việt Nam  tên Nguyễn Ái Quốc, nửa đời sau là nhân sĩ Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan.

Ngoài tập tài liệu của Hồ tuấn Hùng, một bài viết khá dài ký tên Huỳnh Tâm  phổ biến trên Internet (Anle20’s blog) trình bày một cách chi tiết những ngày cuối cùng của Hồ Chí Minh để hỗ trợ cho luận cứ HCM là một người Trung Quốc..

Theo Huỳnh Tâm, khi HCM trở bịnh nặng, trong tuần lễ cuối tháng 8/1969, Thủ Tướng Chu Ân Lai đã lần lượt gởi đến Hà Nội 4 phái đoàn y tế trong đó có nhiều danh y như Ngô Gia Bình (Wu Jiaping), Giám đốc Trung Quốc Học Viện Y khoa, để cứu chửa HCM . Ngoài ra, còn có  một phái đoàn nhân viên tình báo để cướp xác HCM nếu cần hầu bảo vệ tông tích của HCM và một phái đoàn chuyên viên ướp xác. Đến khi HCM chết ngày 2 /9/1969, Trung Quốc gởi qua Hà Nội một phái đoàn hùng hậu chưa từng thấy để dự tang lễ gồm Thủ Tướng Chu Ân Lai, Phó TT Lý Tiên Niệm và nhiều ủy viên cao cấp trong Quân Ủy Trung Ương.

Bởi lẽ khi Hồ Chí Minh chết thì phi cơ Mỹ đang dội bom ác liệt Bắc Việt, xác Hồ Chí Minh phải được di chuyển nhiều lần và chôn sâu trong các hang động để tránh bom đạn, do đó khi lăng Ba Đình được xây xong năm 1975, cái xác nằm trong cái quan tài pha lê được đặt trong lăng không phải là cái xác của HCM đã bị chôn đi chôn lại.

Huỳnh Tâm đã viết : « Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà lãnh đạo đảng CSVN biết rõ cái xác ướp nầy là ai, tuy nhiên họ phải tạo ra một biểu tượng nên họ phải trả giá cao. Họ sẵn sàng chi  một ngân khoản lớn để bảo vệ uy tín của đảng cho dù người trong quan tài pha lê là một tên vô danh tình cờ được nằm vào đó để cho dân tộc VN tung hô muôn năm. Muốn bảo quản tốt, họ phải trả một chi phí vô cùng đắt giá, để rồi sau đó họ phải chống đỡ những khó khăn cùng lúc phải khéo lường gạt ».

Nhận định về tập tài liệu của Hồ Tuấn Hùng

Bài viết nầy không có mục đích trình bày những luận cứ của tác giả Hồ Tuấn Hùng khẳng định Nguyễn Ái Quốc đã chết và Hồ Tập Chương đã đóng vai Hồ Chí Minh từ năm 1933 đến 1969, cũng như không lập lại những phản biện của môt vài tác giả (thí dụ như của ông Phạm Đình Lân rất thuyết phục) về sự phi lý của xác quyết nầy. Bài viết muốn đặt vài giả thuyết về sự xuất hiện của tập tài liệu và sự im lặng đáng ngạc nhiên của đảng Cộng Sản Việt Nam từ lúc xuất hiện tập tài liệu cho đến nay.

Thâm ý của tập tài liệu

Hồ Tuấn Hùng và bác của ông là Hồ Tập Chương là những công dân của nước Đài Loan, hiểu theo nghĩa chính trị, nhưng là người Hán tộc (người Hakkan, tiếng Việt thường gọi là người Hẹ) hiểu theo nghĩa chủng tộc. Người Trung Quốc ở bất cứ nơi đâu, nói bất cứ ngôn ngữ nào, họ vẫn là người Trung Quốc, trung thành với Trung Quốc. Vào thời điểm người Việt trong nước và ngoài nước chống đối kịch liệt Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ  lãnh hải và khai thác tài nguyên VN, quyển sách được tung ra là để nói lên một cách ngạo mạn  cho dân VN biết rằng tứ 1933 đến 1969, người thành lâp đảng CSVN, người lãnh tụ cai trị VN là một người Trung Quốc.

Sự im lặng của đảng CSVN

Từ khi quyển sách được tung ra bằng Hán Văn năm 2008 và bản dịch Việt ngữ hồi đầu năm 2013, đảng CS hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Về việc HCM giả hay thật, chắc chắn có một số đảng viên cùng thời với HCM  nhận biết được qua nhân dạng, nhất là chỉ cần căn cứ vào một yếu tố đơn giản là giọng nói Nghệ An của HCM, một chú ba Tàu không thế nào giả giọng được. Số đồng chí nầy đa số đã chết và nếu có ai đó may mắn còn sống sót và nhận biết được sự giả mạo nầy, có can đảm ghi lại sự giả mạo nầy thì lịch sử sẽ  phải được viết lại khi những tài liệu nầy được tiết lộ và kiểm chứng. Đám hậu duệ của HCM đang ngự trị trong bộ Chính trị hiện nay đa số không biết HCM và nếu có biết những chuyện bí ẩn lạ kỳ, thì vì quyền lợi và rung sợ trước đàn anh Trung Quốc chắc chắn không ai dám hé môi. Việc im lặng của đảng Cộng Sản  trong trạng huống như vậy có thể hiểu được. Nhưng sự im lặng trở nên có vấn đề khi bản dịch tiếng Việt của Thái Văn đã được phổ biến rộng rãi trên Internet từ nhiều tháng qua khiến dư luận có nhiều cách giải thích khác nhau.

Trước tiên là bức thơ ngày 25 tháng 8 năm 2013 của ông Phạm Quế Dương, phổ biến trên blogdanlambao ở trong nước, trang mạng có nhiền blogger bị CS xem là phản động. Sau khi tóm lược ý chính của tập tài liệu của Hồ Tuấn Hùng, ông Dương viết :

…Thời đại Internet hiện đại, nên sách được loan tải trên mạng rất rộng rãi. Nhiều người   đến trao đổi với tôi, hầu hết là những người từng trực tiếp tham gia kháng chiến, là bộ   đội, là cán bộ tuyên huấn… Một số người phản đối, cho cuốn sách là bịa đặt, đổi trắng, thay đen. Một số người thì bảo chuyện này cũng đã được nghe từ lâu và tin lời  ông tác giả. Họ dẫn chứng: năm 1957, cụ Hồ Chí Minh về thăm quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mà không ra thắp hương mộ thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan. Năm 1945, khi bắt đầu làm Chủ tịch nước, bà chị là Nguyễn Thị Thanh ở quê ra thăm, cụ Hồ tránh mặt, không dám gặp, chỉ cử 2 cán bộ cao cấp tiếp.

Bản thân tôi rất kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự hào đã 45 năm là Lính Bác Hồ, Bộ đội Bác Hồ. Khi làm Tổng biên tập báo Phòng Không-Không Quân, ba lần được tiếp xúc với Chủ Tịch khi Chủ Tịch thăm Quân chủng và trận địa tên lửa, viết bài về Chủ Tịch. Nhiều lần về thăm quê Chủ Tịch và thắp hương lễ mộ cụ Hoàng Thị Loan, vào Sài Gòn đến Cảng Nhà Rồng thăm nơi «Bác Hồ đi tìm đường cứu nước », nhiều lần vào lăng viếng Bác.

Kính mong nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam cử giới khoa học lịch sử làm rõ sự thật vụ việc này. Nếu tác giả bịa đặt thì đưa ra tòa án quốc tế xét xử, làm rõ sự thật.

Ông Phạm Quế Dương năm nay 90 tuổi, đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, được phong chức đại tá. Ông còn là nhà sử học, nguyên Tổng biện tập tạp chí Lịch sử Quân đội. Ông bị  cầm tù, bị khai trừ ra khỏi đảng vì chống đường lối của đảng và đã được cơ quan Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman-Hammett dành cho các nhà tranh đấu nhân quyền. Sự lên tiếng của ông Phạm Quế Dương khiến dư luận đặt nhiều câu hỏi.

Như bức thơ ông viết, ông đã có tiếp xúc với ông Hồ 3 lần, như vậy ông có thể nghe ông Hồ nói giọng Nghệ An, nhận biết nhân dạng vì ông đã sống trong chế độ «bác» đến 45 năm, cớ sao ông còn nói trong thơ một cách ỡm ờ như có nghi vấn . Phải chăng  Hồ Chí Minh thực sự là chú ba Tàu như tài liệu của Hồ Tấn Hùng, nhưng vì sợ nên ông không dám nói, hay Hồ Chí Minh thực sự là bác Hồ dân Nghệ An, mà vì ông muốn «quấy rầy» nhà nước  nên chẳng những ông không xác nhận mà còn nói bóng gió tạo hoài nghi trong dân chúng bởi lẽ hôm nay ông là kẻ thù của chế độ. Ông Phạm Quế Dương là một trong những người đương thời với Hồ Chí Minh còn sống và đủ tư cách để xác nhận hay phủ nhận luận cứ của Hồ Tấn Hùng. Chờ xem màn kịch nầy.

Về phía người dân, người giàu thì bận  lo chuyện bốc hốt, người nghèo thì bận lo bửa đói bửa no,  họ không cần biết « Hồ Tàu Khựa» hay  «Hồ xứ Nghệ » bởi Hồ nào thì cũng là  hồ ly tinh. Đối với người dân, Trung Quốc là kẻ thù và chính phủ cũng giống như kẽ thù,  do đó người dân đặt câu hỏi phải chăng chính  phủ đã tung ra bản dịch tiếng Việt mà không cần phải lên tiếng là để ngầm thông báo cho dân chúng biết sự ngạo mạn hung hăn của Trung Quốc và  phải chăng, trước phản ứng chống đối của người dân với chánh phủ càng lúc càng nhiều,  chính phủ muốn  cho người dân chửi rủa «bác» Hồ,  không cần biết là  Hồ Tàu hay Hồ Việt để  cho đảng và chính phủ yên tâm tiếp tục công trình tham nhũng. Đếm bạc sướng hơn chửi bác, đó là sách lược mới của đảng.

Kết luận

Kể chuyện cậu Ba Nguyễn Tất Thành và chú Ba Hồ Tập Chương, chúng tôi muốn nêu lên một thảm kịch của nước Việt Nam đã không may có một Hồ Chí Minh ít học, thiếu tài, kém đức đã làm cho đất nước VN  trở nên điêu linh lại còn dắt đến VN một chú Ba Tàu thô bạo. Cậu Ba Nguyễn Tất Thành đã chết nhưng Việt Nam hôm nay lại nổi lên  thêm nhiều cậu Ba khác trong bộ Chính trị mà cậu Ba nguy hiểm nhất, tham nhũng nhất đã và đang hợp tác với chú Ba Tàu để đưa đất nước đến chỗ diệt vong là cậu Ba Dũng.


Lâm Văn Bé  (khoahoc.net)

Nguồn:  http://www.phoviet.ca/

Posted: 13/08/2015 #views:
 Để lại lời bình:
Tác gỉa:
Email:
Lời bình:
 
Đăng lên

Lời bình:

Danh Mục
         
         
         
         
         
         
         
         
         
         
         
         
         
         
    
Mẹo Vặt:
1
  TỪ CẬU BA THÀNH ĐẾN CHÚ BA TÀU - 08/13/2015

Image result for hồ chí minh và thiếu tá hồ quang   Lâm Văn Bé -  Không phải chỉ có Nguyễn Tất Thành mới đi tha phương cầu thực, mà trước đó, người cha của ông là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức tri huyện Bình Khê (Qui Nhơn) vì tội giết người khi say rượu cũng đã lưu lạc vào Namhành nghề bốc thuốc, được ông cử Hoành (cha của Lê Quang Uyển, thống đốc Ngân hàng thời VNCH) cưu mang cho đến khi mất năm 1929 ở vùng Cao Lãnh (mộ của Nguyễn Sinh Sắc sau nầy được CS trùng tu vĩ đại ở tỉnh Đồng Tháp).
Ngày 15 tháng 9 năm 1911, sau khi vừa đến nước Pháp, cậu Nguyễn Tất Thành đã gởi thơ cho Tổng Thống Pháp và Tổng Trưởng Bộ thuộc địa để xin vào học Trường Thuộc địa (École Coloniale)

Đọc thêm…
  CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ: CÁI ĐÓI THỜI BAO CẤP - 08/11/2015

thoi bao cap   Hà Phương Linh (Đại Kỷ Nguyên VN) -  “Có 1 thời như thế” là chuyên mục của Thời Báo Đại Kỷ Nguyên phác họa lại một giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam: thời bao cấp, với mong muốn thế hệ trẻ có cái nhìn sinh động và chân thực về quá khứ của nước nhà và cùng thế hệ trung niên, lão niên ôn lại thời dĩ vãng không thể quên của mình…
Thời bao cấp với niềm mơ ước sinh tồn “Ăn no mặc ấm” thay vì “Ăn ngon mặc đẹp”

Đọc thêm…
  ĐĂNG ĐÀN CUNG ? QUỐC CA ĐẦU TIÊN - 08/06/2015

   Lê Bá Vận - Ngày 2 tháng 6 năm 1945, cách đây trên 70 năm, chính phủ Trần Trọng Kim vừa thu hồi độc lập ấn định quốc kỳ và quốc ca của Đế Quốc Việt Nam là lá cờ Quẻ Ly và bài Đăng Đàn Cung (ĐĐC).
Kể từ đó bản ĐĐC có danh nghĩa chính thức Quốc Ca đầu tiên của nước Việt Nam.
Bản ĐĐC rất xưa nên khắp nước đều biết đặc biệt tại miền Trung bài này rất phổ biến. Các tác giả như Lê Xuân Nhuận (1930 -), Lê Văn Lân (1931-2013), Thái Công Tụng, Bửu Ý (1937 -)… sống tại Huế đều kể lại trong thời chiến tranh 1939-45, ở Huế  bài ĐĐC thường được nghe lũ trẻ hát mãi trong dân gian

Đọc thêm…
  TRƯƠNG VĨNH KÝ VÀ NHỮNG NỖ LỰC PHỔ BIẾN CHỮ QUỐC NGỮ CUỐI THẾ KỶ XIX - 08/02/2015

Image result for ong Trương Vĩnh Ký   Thu Hằng (RFI) - Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại ky tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thành, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
 

Đọc thêm…
  NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA HIỆP ĐỊNH GENEVA 1954 - 07/20/2015

   Trần Đức Tường - Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève về Việt Nam đã được ký kết. Vĩ tuyến 17 đã là ranh giới chia đôi hai miền đất nước. Gần một triệu người miền Bắc đã rời bỏ quê hương di cư vào Nam. “Chấm dứt một cuộc chiến tranh bằng biện pháp chia đôi lãnh thổ sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh khác…”. Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ đã không ký tên vào bản Hiệp Định Genève chia đôi đất nước.

Đọc thêm…
  VIỆC THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE - 07/19/2015

   Trần Gia Phụng - Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là HenriDelteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản).

Đọc thêm…
  SỰ THẬT VỀ THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG - 07/19/2015

Image result for SỰ THẬT VỀ THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG   Bài viết sau đây của một người ký tên Hoàng Dũng, Đang làm việc ở Văn Phòng Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được blog “Tin Lề Trái” đăng vào ngày 30 tháng 5 năm 2010. Trong một xã hội văn minh thì lý lịch, hoàn cảnh xuất thân, sự nghiệp công tác của các Nhà hoạt động chính trị được công khai rõ ràng cho toàn dân biết. Mọi sự che giấu đều bị các đảng phái hoặc ứng viên đối lập và truyền thông phanh phui. Ở Việt Nam, do không có đa nguyên đa đảng và tự do báo chí, Nhân dân bị mất một quyền rất quan trọng đó là: “Quyền được biết về người lãnh đạo mình”. Bởi vậy những thông tin về đời tư thường kích thích sự tò mò tìm hiểu.

 
Đọc thêm…
  Một Thoáng Sài Gòn - 07/10/2015

sai gon den dem Sài Gòn có gì vui không em?Theo sự truy nguyên, Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phồ hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là "thành phố thánh thần".

Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là "Saigon" do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ "Prey Nokor". Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.
Đọc thêm…

Xếp Theo Loại:

Xếp theo thời gian:

Webmaster: copywright @ 2015 viettorg.com

Online: 37Canada: 1 Netherlands: 24 Reserved: 1 United States: 11 
 Vài nét vềCộng Đồng & Hộì ĐòanHướng DẫnĐiều Lệ
 Vietorg.comTrương mụcXử dụng trang mạng
 Đăng Nhập
 Đăng Xuất